Just another WordPress site
Call Us Free: 1-800-123-4567

Home

Khuôn mặt và làn da như thế nào thì hợp với mái tóc nhuộm đỏ?

Các bạn gái có mái tóc đỏ tuy rất quyến rũ, song không phải ai cũng phù hợp với màu tóc nổi bật này!

Hãy đọc kỹ những điều dưới đây, xem điều nào đúng với bạn nhé! Nếu đáp ứng được 2 trong số 3 điều dưới đây, bạn hoàn toàn có thể trở thành một cô nàng tóc đỏ quyến rũ!

1. Làn da của bạn thuộc tông ấm

Theo chuyên gia tạo màu tóc cho các ngôi sao Hollywood Jennifer J, những người có làn da hồng hào sẽ hợp với tóc có màu đỏ. Những người có làn da thuộc tông lạnh, xanh xao không nên nhuộm màu đỏ vì nó quá nổi bật và rực, khiến làn da của bạn trong có vẻ yếu, xỉn màu hơn. Làn da tông vàng hoặc vàng xanh như màu oliu cũng không nên chọn màu đỏ để nhuộm tóc.

2. Bạn là cô nàng sôi nổi

Màu đỏ, dù tông trầm hay tông nổi cũng đều là gam màu mạnh. Tuy nó khá sành điệu nhưng không hẳn phù hợp với mọi cô gái thời thượng. Những cô nàng yêu vẻ đẹp cổ điển, lãng mạn, dịu ngọt không hoàn toàn phù hợp với mái tóc đỏ. Nhà tạo mẫu tóc của Lindsay Lohan và nhiều ngôi sao khác khẳng định rằng:”Hãy nhớ, mái tóc đỏ chẳng khác gì một chiếc váy sequin lóng lánh, chúng tập trung mọi ánh nhìn, vì thế chắc chắn chúng không dành cho những cô nàng nhút nhát và hay ngần ngại”.

mái tóc nhuộm đỏ 1

3. Bạn thường xuyên chăm sóc tóc

Nếu mái tóc bạn khô, xơ rối, màu tóc đỏ không dành cho bạn. Mái tóc hư tổn nặng được nhuộm những màu nổi như đỏ, vàng sẽ lộ dấu vết hư tổn rất rõ. Chính vì vậy điều kiện cần và đủ để bạn nhuộm tóc đỏ là sở hữu một mái tóc khỏe và bản thân bạn cũng yêu thích việc chăm sóc tóc bằng các sản phẩm chuyên dụng, chẳng hạn như hấp tóc mỗi tuần một lần, vuốt tinh dầu và dùng các loại xịt dưỡng khác.

Làm thế nào để mái tóc đỏ được đẹp dài lâu?

1. Hạn chế gội đầu hết mức có thể

Màu tóc đỏ là màu nhuộm thời trang. Chúng rất nhanh phai nếu bạn gội quá thường xuyên. Tốt nhất mỗi tuần nên gội 1-2 lần bằng dầu gội đầu chuyên dụng có chức năng “khóa” màu tóc.

Bạn nên dùng nước lạnh để gội đầu, tránh nước ấm, nước nóng. Dầu gội đầu khô cũng là một sản phẩm thiết yếu nếu bạn muốn nhuộm tóc đỏ.

2. Không dùng chất tẩy rửa quá mạnh

Chọn lựa dầu gội đầu rất quan trọng. Bạn không nên dùng các loại dầu gội đầu trị gầu, chúng có tính tẩy rửa mạnh, khiến màu tóc nhanh trôi.

3. Chống nắng cho tóc

Mái tóc nhuộm đỏ dễ xỉn màu nếu bạn để ánh nắng mặt trời tiếp xúc nhiều với tóc. Chính vì vậy, trước khi đi ra nắng, bạn nên sử dụng mũ nón hoặc các loại kem dưỡng tóc có màng chắn tia UV. Điều này cũng bảo vệ tóc bạn không bị khô ráp, sần sùi, hư tổn.

mái tóc nhuộm đỏ 2

Vậy cô nàng tóc đỏ nên trang điểm thế nào?

- Nếu có một mái tóc đỏ, bạn nên tạm quên những kiểu trang điểm mắt đậm, đen như mắt khói . Kiểu trang điểm mắt quá đậm đi kèm cùng mái tóc đỏ nổi trội sẽ khiến bạn trở nên lòe loẹt.

- Không nên đánh son, phấn màu hồng đậm. Đỏ và hồng đậm tuy đều nóng bỏng như nhau nhưng rất khó để kết hợp cùng. Chẳng còn gì tệ hơn khi bạn sở hữu mái tóc đỏ chảy bỏng, đôi má màu “hường” và đôi môi hồng rực chúm chím.

- Đừng cố để đồng bộ hóa mái tóc và lông mày của bạn. Thông thường sẽ rất tuyệt khi lông mày và tóc trùng màu nhau, tuy nhiên đối với trường hợp của mái tóc đỏ thì không. “Điều đó thực sự dị hợm” – Chuyên gia trang điểm Dorf cho biết.

mái tóc nhuộm đỏ 3

Khuôn mặt có mái tóc nhuộm đỏ đẹp

mái tóc nhuộm đỏ 4

mái tóc nhuộm đỏ 5

Hướng dẫn 2 kiểu tô son môi đẹp ấn tượng cho bạn gái

Nhiều chị em thường gặp vấn đề với son môi như son môi nhanh phai, son môi bị lem… Chuyên mục phụ nữ xin mách bạn 2 kiểu tô son đơn giản nhưng giúp son bền mau, lâu trôi và có màu sắc rực rỡ hơn do được kết hợp với các màu phù hợp:

Kiểu tô son môi 1: Phấn phủ với son hồng và son nước màu cam

Bạn sẽ có được màu son cam nhạt cực kỳ trẻ trung và mới lạ khi kết hợp phấn phủ với son hồng và son nước màu cam. Thực hiện theo các bước sau:

- Đánh nhẹ 1 lớp phấn phủ lên môi

- Sau đó tô son môi màu hồng

- Cuối cùng là son nước màu cam

Với kiểu mix son này, bạn vừa có được màu son cam mới vừa giữ son trên môi được lâu hơn.

Kiểu tô son môi 2: Phấn phủ, chì kẻ môi và son bóng

Bạn sẽ có được màu son hồng tươi tắn và gợi cảm khi kết hợp chì kẻ môi với son bóng và phấn phủ. Các bước thực hiện rất đơn giản:

- Đầu tiên, đánh chì kẻ môi màu hồng

- Sau đó tô son bóng

- Cuối cùng, đánh phấn phủ vùng viền môi.

Với kiểu tô son này, bạn sẽ có màu son hồng tươi lạ mắt lại rất bền màu.

Cùng học cách tô son để xinh như cô nàng Lee Bo Young nhé!

2 kiểu tô son môi đẹp ấn tượng 1

Bạn sẽ được màu son cam lạ mắt khi kết hợp phấn phủ, son hồng và son nước màu cam

2 kiểu tô son môi đẹp ấn tượng 2

Sau khi tạo được màu son cam đẹp mắt, bạn nên dặm lại phấn phủ để che đi đường viền môi.

2 kiểu tô son môi đẹp ấn tượng 3

Bạn cũng có thể dùng chì kẻ môi, son bóng và phấn phủ để tạo màu hông tươi lạ mắt

2 kiểu tô son môi đẹp ấn tượng 4

Kiểu kết hợp này sẽ giúp bạn có được môi mọng, gợi cảm, hấp dẫn.

Quan hệ tình dục khi có kinh nguyệt có tác hại gì không và có thai không?

Quan hệ tình dục là nhu cầu thiết yếu của các cặp vợ chồng. Nhiều cặp vợ chồng quan hệ cả trong những ngày có kinh nguyệt. Vậy quan hệ tình dục trong những ngày đèn đỏ có tác hại và ích lợi gì không? Hãy tham khảo câu trả lời từ các bác sĩ chuyên gia nhé.

Quan hệ trong khi “đèn đỏ” cũng có thể đem lại nhiều lợi ích cho chị em như chu kỳ sẽ được rút ngắn và giảm đau bụng kinh hiệu quả.

Thắc mắc của bạn Thanh Mai, Hà Nội: Mấy hôm trước, chúng em trót có quan hệ cho dù hôm đó mới là ngày thứ 3 của chu kì kinh nguyệt của em. Mặc dù ngay sau đó “đèn đỏ” của em chỉ kéo dài hơn bình thường 1-2 ngày nhưng đến giờ em lại rất lo. Vì em nghe nói nếu liên tục có quan hệ trong ngày này sẽ dẫn tới vô sinh về sau.

Mong bác sĩ tư vấn cụ thể cho em, em có quan hệ trong ngày “đèn đỏ” thì có hại gì không? Em xin cảm ơn! (Thanh Mai)

quan hệ khi có kinh nguyệt có sao không 1

Bác sĩ sản phụ khoa tư vấn:

Chuyện tình dục là nhu cầu của con người nên sẽ khó có thể kiểm soát cũng như kiềm chế ham muốn của mình. Nhưng cũng phải nói rằng, những gì bạn nghe nói (liên tục có quan hệ trong ngày này sẽ dẫn tới vô sinh về sau) chưa hẳn là đúng.

Cũng giống như các hoạt động tình dục khác, quan hệ tình dục trong những ngày “đèn đỏ” vừa có những cái lợi vừa có những tác hại.

Rất nhiều chị em thường có ham muốn nhiều hơn trong những ngày “đèn đỏ”. Điều này không phải ngẫu nhiên mà là do tại thời điểm này, hàm lượng testosterone tăng đột biến, kích thích nhu cầu tình dục.

Chúng ta vẫn thường được nghe khuyến cáo không nên quan hệ tình dục trong thời kỳ nguyệt san vì không đảm bảo vệ sinh, có thể mắc một số bệnh viêm nhiễm. Điều này đúng một phần vì lúc có kinh nguyệt, cổ tử cung thường bị giãn rộng hơn bình thường, cộng với máu kinh chảy ra, môi trường âm đạo ẩm ướt, nếu có quan hệ rất dễ viêm nhiễm. Trong kì đèn đỏ, các chị em tăng nguy cơ bị nhiễm nấm hoặc nhiễm khuẩn do nồng độ pH của âm đạo ít tính axit hơn. Tình trạng viêm nhiễm kéo dài và tái phát liên tục thì có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của người phụ nữ, thậm chí gây vô sinh.

Ngoài ra, “yêu” trong ngày có kinh nguyệt cũng khó tránh nguy cơ có thai. Điều này trái ngược hẳn với quan niệm của nhiều người là không thể có thai nếu có quan hệ tình dục trong ngày “đèn đỏ”.

Tuy nhiên, các nhà khoa học đã chứng minh, quan hệ trong khi “đèn đỏ” cũng có thể đem lại nhiều lợi ích cho chị em. Thứ nhất, khi bạn đạt cực khoái, tử cung co thắt khiến máu chảy ra với số lượng nhiều, nhưng sau đó, chu kỳ của bạn sẽ được rút ngắn. Thứ hai, cực khoái giúp giải phóng endorphins – một chất giảm đau tự nhiên và cải thiện tâm trạng, điều này có thể giúp bạn giảm nhẹ các cơn đau bụng kinh, đau đầu, trầm cảm và tính dễ nổi cáu trong những ngày đèn đỏ.

Vậy nên, nếu bạn vẫn có thói quen quan hệ tình dục trong ngày “đèn đỏ” thì tốt nhất bạn nên chú ý hơn đến vệ sinh. Cần vệ sinh sạch sẽ trước và sau khi quan hệ để tránh tình trạng viêm nhiễm. Nếu chu kì ra nhiều máu kinh thì tốt nhất nên kiêng để tránh những tổn thương đáng tiếc.

Lợi ích và tác hại khi quan hệ tình dục trong ngày kinh nguyệt

Quan hệ tình dục là nhu cầu là ham muốn của bất kỳ ai, vì thế muốn kiềm chế nó là điều không dễ. Tuy nhiên cũng phải tìm hiểu kỹ vấn đề được và mất khi bạn quyết định quan hệ tình dục trong ngày đèn đỏ và chắc rằng sẽ có không ít những quan niệm sai lầm về vấn đề này.

Cũng giống như các hoạt động tình dục khác, quan hệ tình dục trong những ngày “đèn đỏ” vừa có những cái lợi vừa có những tác hại.

Rất nhiều chị em thường có ham muốn nhiều hơn trong những ngày “đèn đỏ”. Điều này không phải ngẫu nhiên mà là do tại thời điểm này, hàm lượng testosterone tăng đột biến, kích thích nhu cầu tình dục.

quan hệ khi có kinh nguyệt có sao không 2

Tác hại khi quan hệ tình dục trong ngày đèn đỏ

Chúng ta vẫn thường được nghe khuyến cáo không nên quan hệ tình dục trong thời kỳ nguyệt san vì không đảm bảo vệ sinh, có thể mắc một số bệnh viêm nhiễm. Điều này đúng một phần vì lúc có kinh nguyệt, cổ tử cung thường bị giãn rộng hơn bình thường, cộng với máu kinh chảy ra, môi trường âm đạo ẩm ướt, nếu có quan hệ rất dễ viêm nhiễm. Trong kì đèn đỏ, các chị em tăng nguy cơ bị nhiễm nấm hoặc nhiễm khuẩn do nồng độ pH của âm đạo ít tính axit hơn. Tình trạng viêm nhiễm kéo dài và tái phát liên tục thì có thể ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản của người phụ nữ, thậm chí gây vô sinh.

Ngoài ra, “yêu” trong ngày có kinh nguyệt cũng khó tránh nguy cơ có thai. Điều này trái ngược hẳn với quan niệm của nhiều người là không thể có thai nếu có quan hệ tình dục trong ngày “đèn đỏ”.

Lợi ích khi quan hệ tình dục trong ngày đèn đỏ

Tuy nhiên, các nhà khoa học đã chứng minh, quan hệ trong khi “đèn đỏ” cũng có thể đem lại nhiều lợi ích cho chị em. Thứ nhất, khi bạn đạt cực khoái, tử cung co thắt khiến máu chảy ra với số lượng nhiều, nhưng sau đó, chu kỳ của bạn sẽ được rút ngắn. Thứ hai, cực khoái giúp giải phóng endorphins – một chất giảm đau tự nhiên và cải thiện tâm trạng, điều này có thể giúp bạn giảm nhẹ các cơn đau bụng kinh, đau đầu, trầm cảm và tính dễ nổi cáu trong những ngày đèn đỏ, tăng sức khỏe phụ nữ

Vậy nên, nếu bạn vẫn có thói quen quan hệ tình dục trong ngày “đèn đỏ” thì tốt nhất bạn nên chú ý hơn đến vệ sinh. Cần vệ sinh sạch sẽ trước và sau khi quan hệ để tránh tình trạng viêm nhiễm. Nếu chu kì ra nhiều máu kinh thì tốt nhất nên kiêng để tránh những tổn thương đáng tiếc.

Quan hệ khi hết kinh 5 ngày, có thể mang bầu?

“Em và bạn trai có quan hệ 2 lần mà không sử dụng biện pháp tránh thai nào, giờ cả hai lo lắng quá”.

Em 18 tuổi, 5 ngày sau khi hết kinh, em và bạn trai có quan hệ 2 lần mà không sử dụng biện pháp tránh thai nào. Bây giờ em rất lo không biết mình có thể có thai hay không? Mong bác sĩ tư vấn giúp em cách tránh thai an toàn. Xin cảm ơn. (Lan Chi – Hà Nội).

Trả lời của bác sỹ sản phụ khoa:

Em không nói rõ chu kỳ kinh của em bao nhiêu ngày, có đều không, thời gian hành kinh kéo dài mấy ngày, nên bác sĩ không trả lời chính xác được.

Em tham khảo về cách tính ngày tránh thai sau đây để xem trường hợp của mình nhé:

Vòng kinh đều đặn 28 ngày được chia làm ba phần:

- Phần trước: Từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 7 – An toàn tương đối

- Phần giữa: Từ ngày thứ 8 đến ngày thứ 18 – Không an toàn

- Phần cuối: Từ ngày thứ 18 đến ngày thứ 28 – An toàn tuyệt đối

Nếu trong trường hợp vòng kinh có xê xích thì em có thể lấy chu kỳ ngắn nhất và chu kỳ dài nhất để tính như sau:

Ví dụ:

- Chu kỳ ngắn nhất 26 ngày trừ đi 20 (từ ngày 8 đến ngày 28) được 6
- Chu kỳ dài nhất là 30 ngày trừ đi 10 (từ ngày 18 đến ngày 28) được 20

Như vậy khoảng thời gian không an toàn sẽ rơi vào khoảng từ ngày thứ 6 đến ngày thứ 20.

Mang thai 3 tháng đầu: Toàn bộ kiến thức về dưỡng thai, khám thai, dinh dưỡng

Trong 9 tháng 10 ngày của thai kỳ thì 3 tháng đầu là giai đoạn quan trọng nhất vì dễ xảy thai. Các mẹ bầu cần tuân thủ tuyệt đối lời khuyên của bác sỹ và các chuyên gia sản khoa về cách nghỉ ngơi, thăm khám thai 3 tháng đầu và chế độ dinh dưỡng hợp lý cho mẹ bầu và thai nhi.

Những điều mẹ bầu cần làm khi mang thai 3 tháng đầu

- Chúc mừng bạn đã có tin vui. Nhưng hãy thử lại để biết chính xác hơn nhé. Hầu hết các xét nghiệm bằng que thử thai đều chính xác nhưng chúng tôi vẫn khuyên bạn nên đến bác sĩ để xác nhận việc có thai cho bạn những lời khuyên hữu ích cho thai kì.

- Bổ sung axit folic: Đây là việc làm cực kì quan trọng khi mang thai 3 tháng đầu. Vì nhu cầu về axit folic của bà bầu trong giai đoạn này là 400mcg axit folic mỗi ngày. Vì vậy hãy đảm bảo mình đáp ứng đủ axit folic cho nhu cầu của cơ thể và sự phát triển của thai nhi.

- Hãy nói chuyện với những bà mẹ khác và học hỏi kinh nghiệm từ các diễn đàn, có thể bạn sẽ nhận được những lời khuyên vô giá. Tuy nhiên, bạn hãy thông thái trong việc chọn lọc thông tin nhé!

- Nếu muốn, bạn có thể bắt đầu viết nhật kí cho bé yêu ngay từ bây giờ.

Những mốc quan trọng cần siêu âm khi mang thai 3 tháng đầu

mang thai 3 tháng đầu cần lưu ý gì 1

- 6 tuần: Hoạt động tim thai thấy được qua siêu âm ở tuần thứ 6 thai kỳ. Hãy đến gặp bác sĩ và siêu âm để xác nhận thai kì của bạn đang phát triển hoàn toàn bình thường.

- 12 tuần: Đây là thời điểm duy nhất có thể đo khoảng sáng sau gáy nhằm dự đoán một số bất thường về nhiễm sắc thể nguy hiểm như: bệnh down, dị dạng tứ chi, thoái vị cơ hoành… Vì vậy mẹ bầu đừng bỏ qua thời điểm quan trọng này nhé!

Những hoạt động nên làm khi mang thai 3 tháng đầu để mẹ và thai nhi cùng khỏe

- Hãy đi bộ nhẹ nhàng vì những chuyển động nhịp nhàng khi mẹ đi bộ sẽ khiến thai nhi có cảm giác thích thú và thoải mái hơn.

- Trồng một ít cây xanh trong nhà: Trong nhà bao giờ cũng có những hóa chất tẩy rửa đồ gia dụng không tốt cho cả mẹ và thai nhi. Vì vậy bạn hãy “đầu tư” một ít cây xanh trong nhà để loại bỏ khí độc. Tuy nhiên, cần lưu ý là không nên trồng cây trong phòng ngủ nhé!

- Tập yoga: Tập yoga sẽ giúp cơ thể mẹ bầu dồi dào khí oxy, làm dịu hệ thần kinh, đồng thời cũng giúp tăng cường oxy cho bào thai.

- Trứng và rau cải bó xôi là 2 thực phẩm được khuyên nên ăn nhiều trong 3 tháng đầu mang thai vì nó có chứa nhiều choline – chất quan trọng hình thành các dây thần kinh ghi nhớ và học tập ở bào thai. Ngoài ra nó còn có olate, vitamin A và C, cũng như canxi, sắt, magiê, kali và vitamin B6.

- Nghỉ ngơi: Khi mang thai 3 tháng đầu, cơ thể bạn sẽ rất mệt mỏi vì phải “vận hành” hết công suốt để hỗ trợ cho thai nhi. Vì vậy những giấc ngủ ngắn và tranh thủ thời gian nghỉ ngơi là điều bạn nên làm trong thời gian này. Nó giúp bạn tăng cường năng lượng để cho bé có một khởi đầu tốt đẹp.

Tình trạng mất ngủ trong 3 tháng đầu mang thai

- Một trong những nguyên nhân khiến bạn mất ngủ khi mang thai 3 tháng đầu là do thường xuyên buồn tiểu vào ban đêm. Lý do là lúc này tử cung vẫn còn nhỏ, chưa bị đẩy lên khỏi khung xương chậu nên nó gây sức ép tới bàng quang khiến bạn thường xuyên mót tiểu.

Hãy yên tâm vì tình trạng này sẽ được giải quyết khi bạn bước vào tam cá nguyệt thứ hai vì lúc này tử cung đã phát triển và bật ra khỏi khung xương chậu.

- Lý do thứ hai khiến bạn mất ngủ là do sự thay đổi của hormone progesterone khiến bạn cực kỳ mệt mỏi. Một khi quá mệt mỏi, bạn sẽ trằn trọc và gây mất ngủ. Để tránh mất ngủ, bạn nên duy trì một số thói quen tốt như: không dùng đồ uống có caffein, tránh uống rượu và hút thuốc lá, nên đi ngủ và thức dậy cùng một thời điểm mỗi ngày và tập thể dục nhẹ nhàng.

Đối phó với những cơn nghén

- Không nên bỏ bữa và chia nhỏ bữa ăn chính là cách hay để chống lại những cơn nghén trong 3 tháng đầu mang thai. Ăn uống thường xuyên để giữ ổn định lượng đường trong máu, tránh nghén.

- Tránh những đồ ăn quá béo vì chất béo làm cơ thể mất nhiều thời gian để tiêu hóa, thức ăn ở lâu trong dạ dày và làm gia tăng cơn buồn nôn.

mang thai 3 tháng đầu cần lưu ý gì 2

Những thăm khám cần thiết 3 tháng đầu thai kỳ

Sau khi trễ kinh 2 tuần, cần siêu âm ngả âm đạo để xác định tuổi thai, dự ngày sinh, đến lúc thai 12 tuần tuổi, cần siêu âm đo độ mờ da gáy thai nhi và xét nghiệm sinh hóa máu mẹ.

Thạc sĩ, bác sĩ Đặng Châu Quỳnh, Trưởng khoa Sản Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vũ Anh cho biết, quá trình mang thai ở người trung bình 280 ngày (40 tuần) được chia thành 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn 3 tháng, gọi là quý hay tam cá nguyệt. Mỗi tam cá nguyệt sẽ có những đặc điểm riêng và những biến chứng của thai kỳ khác nhau. Việc khám thai theo đúng lịch trình là để bảo đảm quản lý thai an toàn đến lúc sinh và tránh được những biến chứng nặng nề trong cuộc sinh như băng huyết sau sinh, tử vong mẹ con.

Theo bác sĩ Quỳnh, để phát hiện mang thai, ngoài việc trễ kinh, một số dấu hiệu để nhận biết là thai phụ thường căng đầu vú, hay đi tiểu lắt nhắt, thường xuyên buồn nôn và nôn, người mệt mỏi, dễ cáu gắt, chướng bụng…

Trong 3 tháng đầu tiên của thai kỳ, tức đến tuần thứ 12 thì mọi cơ quan của thai nhi đã dần hình thành hoàn thiện với chân tay cử động được.

Điều cần làm khi bắt đầu mang thai là tính ngày dự sinh. Ngày dự sinh là ngày thai được tròn 40 tuần. Nếu dự sinh theo kinh cuối và siêu âm khác biệt nhiều thì bác sĩ dựa vào siêu âm thời điểm này để tính tuổi thai.

Bác sĩ Quỳnh khuyến cáo, khi thấy có trễ kinh kèm theo dấu hiệu đau bụng, ra huyết, nôn ói nhiều thì nên đến cơ sở y tế khám ngay. Đó có thể là dấu hiệu của một số biến chứng thường gặp của thời kỳ này là thai ngoài tử cung, dọa sẩy thai hoặc sẩy thai, thai lưu, thai trứng và bệnh lý nguyên bào nuôi.

Các xét nghiệm cần làm trong 3 tháng đầu

- Test thử thai nhanh (thử hCG trong nước tiểu). Nên đợi trễ kinh hơn 1 tuần và thử nước tiểu vào buổi sáng sớm. Test này tiện lợi nhưng có thể cho kết quả âm tính giả. Nếu kết quả âm tính thì nên đợi 1 tuần sau thử lại, nếu lần này vẫn âm tính thì nên đến bệnh viện để thử hCG trong máu sẽ cho kết quả chính xác hơn.

- Xét nghiệm máu thường quy trong thai kỳ, bao gồm xét nghiệm xác định nhóm máu, công thức máu. Ngoài ra cần xét nghiệm đường huyết, tổng phân tích nước tiểu và xét nghiệm phát hiện các bệnh lây nhiễm như rubella, giang mai, HIV, viêm gan siêu vi B để có biện pháp can thiệp can thiệp, dự phòng kịp thời.

Ngoài ra, bác sĩ Quỳnh cho biết, cần tiến hành siêu âm ngả âm đạo. Nên đợi trễ kinh 2 tuần, lúc này siêu âm để xác định thai trong hay ngoài tử cung, có mấy thai, xác định tuổi thai để ghi nhận ngày dự sinh, tìm những bất thường của tử cung và 2 buồng trứng nếu có.

Từ 11,5 tuần đến hết 13,5 tuần bác sĩ sẽ kết hợp siêu âm đo độ mờ da gáy với xét nghiệm sinh hóa máu mẹ để tính nguy cơ thai nhi bị rối loạn nhiễm sắc thể cao hay thấp. Từ đó sẽ quyết định có cần làm thêm xét nghiệm nước ối hay không. Siêu âm đo độ mờ da gáy là siêu âm rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong việc phát hiện sớm những bất thường của thai nhi.

Những việc cần làm trong 3 tháng đầu

- Bổ sung viên sắt, bổ sung thêm vitamin B6, acid folic

- Ăn nhẹ vào buổi sáng bằng bánh ngọt – khô, ăn nhiều lần trong ngày với lượng ít

- Cần ăn thêm kẹo bánh có gừng hoặc trà gừng để chống nôn ói, mệt mỏi

- Uống nhiều nước ấm mỗi ngày

- Tập thể dục mỗi ngày ít nhất 30 phút mỗi ngày bằng cách đi bộ nhẹ nhàng, bơi lội, chạy xe đạp, yoga.

Những việc cần tránh trong 3 tháng đầu

- Không được dùng thuốc lá, rượu bia, thuốc gây nghiện

- Khi biết có thai thì nên báo cho bác sĩ nếu đang dùng các thuốc điều trị bệnh mãn tính như lao, tâm thần, cao huyết áp, động kinh, vitamin liều cao.

Quan hệ tình dục khi mang thai 3 tháng đầu

Quan hệ tình dục trong thời kỳ mang thai không bị cấm, nhưng trong 3 tháng đầu thai kỳ nguy cơ sảy thai khá cao, do vậy nên hạn chế quan hệ vào giai đoạn này hoặc phải hết sức thận trọng. Đây là giai đoạn bắt đầu hình thành các cơ quan, bộ phận của thai nhi, bánh rau, buồng ối bắt đầu phát triển.

Tư vấn dinh dưỡng bà bầu: Mang thai 3 tháng đầu nên ăn gì và kiêng ăn gì

3 tháng đầu thai kỳ rất quan trọng đối với người phụ nữ mang thai. Vì đây là giai đoạn ốm nghén nhiều nhất thai kỳ và dễ sảy thai nhất, do đó chế độ dinh dưỡng trong 3 tháng đầu thai kỳ rất quan trọng.

Trong 3 tháng đầu thai kỳ, bà bầu chỉ cần duy trì mức năng lượng bình thường. Hãy chia nhỏ khẩu phần ăn trong ngày thành nhiều bữa (5 -6 bữa) để tránh hiện tượng nôn và buồn nôn do ốm nghén.

Theo bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng sản phụ, quá trình mang thai là thời gian hạnh phúc nhưng cũng nhiều thử thách của người phụ nữ. Thai phụ có “đặc quyền” được đòi hỏi bất cứ đồ ăn, thức uống gì và vào bất cứ thời điểm nào (kể cả nửa đêm) mà người nhà vẫn phải chiều vì “chứng ăn dở” của bà bầu.

Tuy nhiên, lời khuyên cho chị em là nên tạm hoãn những sở thích ăn uống nếu những thực phẩm đưa vào cơ thể không tốt cho bé hoặc cho chính mẹ, vì ăn vào ngon miệng một người mà tới hai người “khổ”. Có trường hợp mẹ không muốn ăn nhưng cũng phải cố ăn để cho bé yêu trong bụng có đầy đủ dưỡng chất. Đôi khi các bà mẹ cũng biết những gì là tốt, cần cho con nhưng vì ốm nghén hay “nuông chiều” bản thân trong giai đoạn mang thai vất vả nên chỉ ăn những gì mình thích.

Bên cạnh đó, thai phụ nên cân nhắc và lựa chọn thực phẩm xanh, sạch, tốt cho bé cũng như cho mẹ cùng quá trình chuyển dạ. Một chế độ ăn uống cân bằng dinh dưỡng của người mẹ khi mang thai sẽ là món quà tốt nhất cho bé con sắp chào đời.

mang thai 3 tháng đầu nên ăn gì 1

3 tháng đầu thai kỳ thường là giai đoạn khá khó khăn với những phụ nữ lần đầu mang thai vì có thể bị nghén, ăn không được, ói… Trong khi đó dinh dưỡng hấp thụ vào cơ thể bé chưa nhiều. Trong giai đoạn này, khi ăn uống mẹ chỉ cần duy trì mức năng lượng bình thường. Hãy chia nhỏ khẩu phần ăn trong ngày thành nhiều bữa (5-6 bữa) để tránh hiện tượng nôn và buồn nôn do ốm nghén. Có thể bổ sung thêm thuốc bổ (sắt, acid folic, B12)

Trong 3 tháng đầu, thai phụ chỉ cần tăng 0,9 kg tới 2,3 kg. Riêng các mẹ đã béo phì thì không nên để tăng cân. Đây là giai đoạn cơ thể mẹ sẽ có những biến đổi sinh lý để thích nghi, đồng thời là thời gian quan trọng cho sự phát triển não bộ và hệ thần kinh của bé. Vì vậy dù mẹ kém ăn nhưng cũng phải chú ý tăng thêm lượng chất đạm, nhất là những protein chất lượng cao dễ tiêu hóa, dễ hấp thu như: trứng, sữa các loại, các loại thịt gia cầm, cá và đậu…

Thai phụ cần lưu ý ăn đủ bữa trong ngày: 3 bữa chính + 3 bữa phụ.

Sau 3 tháng đầu thai kỳ người mẹ mới hết buồn nôn, ăn ngon miệng, thèm ăn vặt. Đây là giai đoạn mẹ dễ dàng tăng tốc để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cao hơn. Vì thế cơ thể mẹ cần thêm năng lượng, song không phải chỉ ăn nhiều hơn về số lượng, mà nên chú trọng những chất dinh dưỡng cần thiết như:

- Chất đạm (protein): Có nhiều trong thịt, cá, trứng, sữa, các loại đậu đỗ… giúp phát triển các tế bào mô của thai (bao gồm cả tế bào não), giúp cho tuyến vú và mô tử cung của mẹ phát triển suốt thai kỳ, đồng thời tăng thể tích tuần hoàn của mẹ. Thai phụ cần bổ sung thêm 10-18g protein mỗi ngày (tương đương 50-100 gr thịt cá tùy loại, 100-180 gr đậu hũ, hay 1-2 ly sữa mỗi ngày).

- Chất sắt: Có nhiều trong thịt, gan, tim, cật, rau xanh và các loại hạt… giúp tăng thể tích máu và phòng ngừa thiếu máu. Nếu thai phụ thiếu máu sẽ làm giảm lực co bóp của tử cung khi chuyển dạ, giảm lượng sắt dự trữ của em bé trong 6 tháng đầu đời. Vì thế thai phụ cần bổ sung thêm ít nhất 15gr sắt mỗi ngày.

- Canxi: Có nhiều trong sữa, trứng, tôm, cua, cá, rau xanh, đậu đỗ… giúp hoạt động hệ thần kinh và đông máu bình thường cho mẹ, hình thành hệ xương và răng vững chắc cho bé. Nếu thiếu canxi mẹ dễ bị vọp bẻ, đau nhức xương, bé có thể bị còi xương ngay trong bụng mẹ.

- Acid folic (vitamin B9): Giúp giảm nguy cơ dị tật ống thần kinh cho trẻ, tật nứt đốt sống trong bào thai. Vitamin này có trong các loại rau màu xanh thẫm như rau muống, cải xanh, súp lơ xanh, cải bó xôi, ngũ cốc hoặc một số loại hạt như vừng, lạc… Ngoài ra acid folic còn có trong thịt gia cầm và nội tạng động vật như gan, tim…

- Vitamin D: Có trong trứng, sữa và ánh nắng mặt trời. Ngay từ trong bào thai, bé cần phát triển hệ xương và hình thành mầm răng sữa, vì vậy ngoài việc bổ sung thực phẩm nhiều canxi, người mẹ phải kết hợp phơi nắng để tăng cường vitamin D giúp hấp thu canxi tối ưu. Thai phụ cần phơi nắng khoảng 15 phút mỗi ngày (tránh ánh nắng quá gay gắt), nên để ánh nắng chiếu trực tiếp vào cơ thể, không nên đeo găng tay, đi vớ và cũng không nên phơi nắng sau cửa kính.

- Vitamin C: Giúp hỗ trợ phát triển xương sụn, cơ và mạch máu cho bào thai, tạo bánh nhau bền chắc. Nó cũng là một chất chống oxy hóa giúp người mẹ tăng cường sức đề kháng. Vitamin C có trong các loại rau xanh, trái cây…

mang thai 3 tháng đầu nên ăn gì 2

Hạn chế và tránh những thực phẩm bất lợi cho thai nghén 3 tháng đầu

Trước và trong khi mang thai, bà mẹ cần thay đổi một số thói quen và sở thích ăn uống không tốt. Ví dụ thói quen ăn mặn vì phụ nữ có thai ăn nhiều muối sữ dẫn đến huyết áp cao và phù, ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe mẹ và con.

Phụ nữ mang thai không nên ăn hoặc hạn chế sử dụng các loại cá có nguy cơ chứa thủy ngân cao (cá thu, cá mập, cá kiếm). Thủy ngân nhiễm trong cá nếu tích lũy quá nhiều có thể gây tổn thương đến não của thai nhi.

Phụ nữ có thai không nên sử dụng những thực phẩm đã được xác nhận là gây nguy hiểm cho thai nhi. Ví dụ như một số loại củ, quả mọc mầm (như khoai tây) vì chứa nhiều chất độc, gây ảnh hưởng đến thai nhi. Các sản phẩm sữa, bơ, phomat chưa qua tiệt trùng; cá, thịt, trứng còn tái; thức ăn ôi thiu, mốc, có mùi lạ cũng không được sử dụng vì chúng chứa nhiều vi khuẩn và mầm bệnh gây tác động xấu đến sức khỏe của mẹ và con. Nên lựa chọn những thực phẩm an toàn, rau quả cần rửa sạch, gọt vỏ trước khi ăn và chế biến để tránh nhiễm khuẩn. Ăn ít hoặc không ăn những loại thực phẩm có khả năng gây động thai, sinh non như đu đủ xanh, táo mèo, long nhãn, đào, gừng, ớt, rau sam…

Phụ nữ có thai không nên uống rượu và dồ uống có cồn. Cồn trong rượu sẽ vào cơ thể mẹ và qua nhau thai xâm nhập vào bào thai, trực tiếp gây hại cho thai nhi, có thể làm cho bé phát triển chậm hoặc có bộ phận bị dị dạng.

Phụ nữ có thai cũng không nên dùng nhiều đồ uống có ga, có chứa cafein và cocain. Chất cafein có trong cà phê và đồ uống có ga có hại với phôi thai, có khả năng gây sảy thai. Ngoài ra cafeincos thể làm phá vỡ các vitamin dẫn đến triệu chứng thiếu vitamin B1 mà biểu hiện là mệt mỏi, chán ăn, táo bón. Cafein cũng kìm hãm sự hấp thu của sắt và kẽm, làm nặng hơn tình trạng thiếu máu của phụ nữ có thai.

Các thực phẩm có lợi, có hại theo quan niệm truyền thống – nên hay không nên?

Theo kinh nghiệm dân gian, nhiều phụ nữ mang thai trong thời kỳ thai nghén quan niệm phải ăn một số thực phẩm có lợi cho thai nghén (trứng ngỗng, cá chép, nước dừa…) hoặc không được ăn một số thực phẩm có hại cho thai nghén (rau ngót, măng, ốc…). Về bản chất, các thực phẩm đều có giá trị dinh dưỡng nhất định, nếu ăn ở mức điều độ thì đều có lợi cho cơ thể.

Ăn 7 trứng ngỗng sẽ sinh con trai, ăn 9 trứng ngỗng sinh con gái, muốn con thông minh, mẹ nên ăn nhiều trứng ngỗng….là những kinh nghiệm mà các bà bầu vẫn hay mách nhau.

Tuy nhiên thực ra trứng ngỗng chỉ hiếm chứ không quý và còn kém trứng gà về mặt giá trị dinh dưỡng. Trứng ngỗng tuy giàu protein hơn trứng gà một chút (trứng ngỗng 13,5%, trứng gà 12,5%) nhưng đổi lại lượng lipit cao hơn (trứng ngỗng 13,2%, trứng gà 11,6%). Hàm lượng các vitamin của trứng ngỗng cũng thua trứng gà. Đặc biệt vitamin A, rất cần cho phụ nữ mang thai, ở trứng ngỗng chỉ bằng một nửa so với trứng gà.

Hiện chưa có công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc nào khẳng định phụ nữ mang thai nếu ăn trứng ngỗng thì con thông minh, hoặc trứng ngỗng tốt cho thai nhi hơn các trứng gia cầm khác. Do đó, thay vì cố ăn trứng ngỗng một cách không thích thú mà giá lại đắt, các bà mẹ mang thai nên dùng trứng gà. Nếu có trứng ngỗng thì cũng chia nhỏ quả trứng ăn làm nhiều lần hoặc nấu cho cả nhà cùng ăn để giảm bớt lượng protein, tránh quá tải cho thận và tăng cholesterol máu, nhất là ở những bà mẹ có nguy cơ tăng huyết áp khi mang thai. Cá chép là một trong những loài có chất lượng thịt ngon, ăn ngọt, vị thơm. Đặc biệt, với chị em phụ nữ, món ăn từ cá chép sẽ rất bổ máu, ăn nhiều giúp mặt hồng hào, tuần hoàn tốt. Phụ nữ đang mang thai, ăn cá chép sẽ có tác dụng an thai. Trong cá chép chứa nhiều thành phần bổ dưỡng như prortein, mỡ, vitamin A, B1, B2, phốt pho, canxi, sắt… có tác dụng bổ máu và giúp não bộ phaits triển khỏe khắn rất tốt cho bà mẹ đang mang thai. Đối với những bà mẹ mang thai hay mất ngủ, mệt mỏi thì dùng món ăn chế biến từ cá chép thường xuyên sẽ có tác dụng bồi bổ, phục hồi cơ thể. Theo y học cổ truyền, cá chép có vị ngọt, tính bình, chứa nhiều đạm và vitamin….có tác dụng an thai, chữa phù thũng khi mang thai. Canh cá chép nguyên vị đặc biệt tốt với phụ nữ mang thai trong thời kỳ đầu. Tuy nhiên, quan niệm ăn cá chép thì đẻ con da trắng, môi đỏ hoặc sinh con gái là không có cơ sở khoa học. Nên lựa cá chép sông để nấu là ngon hơn cả vì cá sống trong môi trường tự nhiên. Cá chép nếu được nuôi trong môi trường nước bị ô nhiễm thì có khả năng nhiễm kim loại nặng vì chúng sống ở lớp bùn nên cần cẩn thận khi mua. Đặc biệt không nên ăn cá chép cả ruột vì có khả năng nhiễm độc và cũng không nên ăn quá nhiều mỗi lần. Phụ nữ mang thai 3 tháng đầu chỉ ăn tăng thêm 10g đạm tương đương với 100g các chép tươi (tính cả xương), tổng lượng đạm một ngày cần khoảng 80g.

Một số bà mẹ mang thai cho rằng uống nước dừa nhiều sẽ đẻ con da trắng, nhưng cũng chưa có bằng chứng khoa học nào chứng minh điều này.

Trong nước dừa có chứa hàm lượng chất béo rất cao (2%) nên uống nhiều sẽ gây đầy bụng, khó tiêu. Trong 3 tháng đầu thai kỳ, bà mẹ mang thai thường xuyên bị nôn ói, ốm nghén, uống loại nước này sẽ làm tình trạng bệnh thêm trầm trọng hơn. Thêm vào đó, nước dừa nhất là dừa xiêm thuộc âm, tức là có tính giải nhiệt, làm mát, làm mềm yếu gân cơ, hạ huyết áp vì vậy nó không tốt cho bà mẹ mang thai những tháng đầu. Tuy nhiên sau 3 tháng đầu bà mẹ mang thai có thể thoải mái uống nước dừa và loại nước này còn được coi là đồ uống “vàng” cho mẹ nữa. Lợi ích của nước dừa với bà mẹ mang thai: đó là một loại nước giải khát tốt, cung cấp nước và điện giải phù hợp cho cơ thể. Nước dừa cũng là một loại thuốc lợi tiểu tự nhiên và cũng giúp tăng tiết nước tiểu, giúp ngăn ngừa tình trạng viêm đường tiết niệu cũng như giảm nguy cơ sỏi thận. Nước dừa cũng giúp giảm tình trạng táo bón, cải thiện chức năng đường ruột và các vấn đề về tiêu hóa như tăng tiết axit dạ dày, viêm loét dạ dày. Táo bón, đầy bụng, ợ hơi là những vấn đề thường gặp khi mang thai và nước dừa hoàn toàn có thể khắc phục được vấn đề này. Nước dừa cũng rất giàu axit lauric mà khi vào cơ thể sẽ được chuyển hóa thành monolaurin, có tác dụng chống lại các vi rút, vi khuẩn có lớp vỏ lipit; kháng nấm giúp bảo vệ cơ thể khỏi các bệnh viêm nhiễm và tăng cường hệ miễn dịch. Với tất cả những lợi ích kể trên, nước dừa luôn được khuyến nghị cho các bà mẹ đang mang thai. Tuy nhiên, phụ nữ mang thai cũng chỉ nên uống lấy nước của 1 quả mỗi ngày và không nên uống buổi tối.

Theo kinh nghiệm dân gian, phụ nữ mang thai không được ăn rau ngót vì rau ngót có tác dụng làm sạch ruột, như vậy nếu ăn nhiều sẽ dẫn đến sảy thai, do đó chỉ nên ăn rau ngót sau khi sinh hoặc là khi bị sảy, nạo thai.

Bà mẹ mang thai bình thường vẫn có thể ăn rau ngót luộc hay nấu canh, nhưng cần chọn loại tươi sạch.

Có rất nhiều bà mẹ mang thai tin và làm theo kinh nghiệm dân gian ấy trong thời kỳ mang thai. Chưa có tài liệu nào nghiên cứu về tác dụng gây sảy thai của rau ngót. Trong rau ngót có 5,3% protit, 3,4% gluxit, canxi (169mg%), photpho (64,5mg%), vitamin C (185mg%). Rau ngót có nhiều axit amin cần thiết. Ví dụ như trong 100g rau ngót có 0,16g lysin; 0,13g methionin; o,05g tryptophan; 0,25g phenylalalin, 0,34g treonin; 0,17g valin; 0,24g leuxin và 0,17g izoleucin… Theo kinh nghiệm truyền miệng, phụ nữ sau đẻ, sau sảy, sau nạo chữa sót nhau bằng cách uống nước rau ngót sống. Hái độ 40g lá rau ngót, rửa sạch giã nát, thêm một ít nước đã đun sôi để nguội vào, vắt lấy chừng 100ml nước, chia làm hai lần uống, mỗi lần cách nhau 10 phút. Sau chứng 15-20 phút nhau sẽ ra. Thực tế thì có rất nhiều trường hợp phụ nữ mang thai vẫn ăn canh rau ngót bình thường mà vẫn không sảy (không phải nước rau ngót giã sống). Tuy nhiên, tình trạng sức khỏe của mỗi sản phụ là khác nhau. Những thai phụ có tiền sử sảy thai liên tiếp đẻ non, con quý hiếm (thụ tinh trong ống nghiệm) thì nên hạn chế ăn rau ngót đặc biệt là uống nước rau ngót sống, liều cao.

Nhiều người cho rằng phụ nữ khi mang thai thì không nên ăn nhiều ốc vì sau này khi sinh con sẽ có nhiều rớt rãi. Nhưng đây thực chất là một quan niệm không đúng.

Thịt ốc vị ngọt, tính hàn, có tác dụng chữa một số bệnh nhữ phù thũng, bệnh gan, vàng da, thủy đậu, nhiễm khuẩn, trĩ…Tuy nhiên, những người hay rối loạn tiêu hóa kéo dài, người có vết loét lâu không lành…nên kiêng hoặc hạn chế ăn ốc. Có thể chế biến ốc thành nhiều món ăn bổ dưỡng tốt cho sức khỏe như ốc hấp lá gừng, ốc nấu chuối đậu, nem ốc, hoặc canh ốc nấu chua là phương thuốc phục hồi sức khỏe nhanh chóng, giúp khí huyết lưu thông. Trong quá trình mang thai, do cơ thể bà mẹ thiếu vi chất nói chung nên thường có cảm giác thèm ăn ốc. Ốc đặc biệt có chứa nhiều đạm và canxi nên là nguồn cung cấp chất đạm và canxi tốt cho bà mẹ.

Cần lưu ý ốc phải được rửa sạch và luộc chín kyxm vì ốc sống dưới các hồ, ao nên có nhiều loại sán sống ký sinh bên trong nó. Tốt nhất là nên ngâm nước gạo trước vài tiếng rồi rửa sạch và luộc chín rồi mới ăn để tránh sán từ ốc có thể vào cơ thể người cư trú ở đường phổi và gan, sinh ra các bệnh sán lá phổi, sán lá gan gây ảnh hưởng đến sức khỏe.

Rất nhiều bà mẹ băn khoăn là không biết có được ăn măng tươi, măng khô khi mang thai không? Nhiều người nói rằng đó là sở thích của họ và có chị em còn nghén món ăn có măng như bún măng, canh măng…Trên thực tế, măng tươi có chứa nhiều độc tố, đặc biệt là glucozit sinh ra acid xyanhydric. Khi gặp men tiêu hóa trong dạ dày, gặp chất chua, glucozit bị thủy phân và giải phóng acid xyanhydric (HCN). Chính acid này gây ngộc độc, nôn mửa, giống như khi bị ngộ độc sắn. Chính vì vậy, nhiều người khuyên bà mẹ mang thai không nên ăn măng. Tuy nhiên, vấn đề trên chỉ xảy ra nếu bà mẹ ăn với mức độ quá nhiều và thường xuyên. Lời khuyên là phụ nữ mang thai nên hạn chế ăn măng và nếu thèm thì chỉ nên 2 bữa với khoảng 200-300gam. Nên tự mua măng tươi về chế biến để đảm bảo an toàn vệ sinh. Cách chế biến măng tươi giảm độc tố là cho măng vào nồi luộc sôi kỹ 2-3 lần. Trong khi sôi, mở vung để độc tố bay ra, sau đó mới chế biến món ăn.

Nguyên nhân bé bị táo bón và cách chữa trị cho bé bị táo bón lâu ngày, ra máu

Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ thường hay bị táo bón, có nhiều nguyên nhân khiến trẻ bị táo bón như trẻ không hợp sữa, trẻ uống ít nước, chế độ ăn ít rau củ, hoặc táo bón do bệnh lý… Khi bị táo bón, trẻ sẽ chán ăn, chậm lớn, sút cân. Vậy làm thế nào để chữa trị táo bón cho bé?

Dấu hiệu khi trẻ bị táo bón

Táo bón rất dễ phát hiện ra nếu như người mẹ biết cách quan tâm, theo dõi tới việc đi đại tiện của trẻ. Trẻ có thể bị táo bón là khi trẻ đại tiện dưới 2 lần đại tiện/ngày đối với trẻ sơ sinh, dưới 3 lần đại tiện/tuần (trên 2 ngày/lần) với trẻ đang bú mẹ, dưới 2 lần đại tiện/tuần (trên 3 ngày/lần)với trẻ lớn.

bé bị táo bón lâu ngày 1

Trong trường hợp thấy trẻ đi ngoài phân rắn, có khi thành viên như phân dê, trẻ phải rặn thì lúc đó bạn nên nghĩ ngay đến việc trẻ đã bị táo bón. Táo bón nếu không được điều trị sẽ dẫn đến nhiều hậu quả như trẻ biếng ăn, chậm lớn, còi cọc, suy dinh dưỡng, chướng bụng, đầy hơi, ăn khó tiêu, nôn trớ. Những chất độc trong phân cần được thải ra ngoài hàng ngày bị tích lại trong ruột có thể bị hấp thu trở lại trong máu gây hại cho sức khoẻ của trẻ.

Trẻ có thể bị táo bón trong vài ngày hoặc vài tuần và thường được gọi là táo bón cấp tính nhưng trẻ cũng có thể bị táo bón kéo dài, lâu hơn đến vài tháng.

Nguyên nhân trẻ bị táo bón

Có 2 nguyên nhân chính dẫn tới việc táo bón ở trẻ

Nguyên nhân do tổn thương thực thể ở đường tiêu hoá, loại này hiếm gặp thường chỉ chiếm 5% trong các nguyên nhân gây táo bón, đó là các dị tật bẩm sinh: Phình to đại tràng (bệnh Hipschsprung), bệnh suy giáp trạng (bệnh Myxoedeme) khi mắc các bệnh này trẻ thường bị táo bón rất sớm từ ngay sau khi đẻ.

Ngoài ra còn có các nguyên nhân mắc phải như: trẻ bị nứt hậu môn, bị trĩ, nên trẻ đi ngoài bị đau gây co thắt hậu môn. Có thể do sai lầm trong chế độ ăn uống: uống ít nước dẫn đến thiếu nước, ăn quá nhiều chất đạm, ít chất xơ do ăn ít rau xanh, quả chín, pha sữa quá đặc, ăn chưa đúng về số lượng hàng ngày, trẻ ăn sữa bò dễ bị táo bón hơn sữa mẹ, mẹ bị táo bón cho con bú sữa mẹ cũng dễ bị táo bón.

Có thể trẻ bị giảm trương lực ruột do mắc một số bệnh như: còi xương, suy dinh dưỡng, thiếu máu… hoặc do dùng thuốc thuốc kháng sinh giảm ho có codein. Ở trẻ lớn còn chịu ảnh hưởng của yếu tố tinh thần như nhịn đại tiện do sợ bẩn, sợ thối hoặc ngại đi đại tiện, ở tuổi mẫu giáo trẻ sợ cô giáo không dám xin phép đi đại tiện, không luyện thói quen đi ngoài đúng giờ.

Khắc phục tình trạng táo bón ở trẻ

Khi phát hiện ra trẻ bị táo bón, bạn đừng nên quá lo lắng vội, hãy tìm cách giải quyết vấn đề này cho trẻ.

Hãy cho trẻ uống nhiều nước: trẻ dưới 6 tháng bú mẹ hoàn toàn không cần uống nước nhưng nếu bé bị táo bón thì vẫn cho uống 100 – 200ml nước/ngày. Với trẻ bắt đầu ăn dặm từ 6 – 12 tháng uống 200 – 300ml nước/ngày. Trẻ 1 – 3 tuổi uống 500 – 600ml nước/ngày. Trẻ 3 – 5 tuổi uống 1000ml nước/ngày. Trẻ lớn hơn 10 tuổi uống bằng người lớn: 1500 – 2000ml nước/ngày.

Với trẻ đã ăn dặm nên cho trẻ ăn nhiều rau xanh và quả chín: Chọn các loại rau quả có tính chất nhuận tràng: rau khoai lang, mồng tơi, củ khoai lang, đu đủ, chuối tiêu, cam, bưởi. Nên tập cho trẻ thói quen ăn nhiều rau, quả chín từ nhỏ. Với trẻ lớn không nên cho bé ăn các loại hoa quả có vị chát như ổi, hồng xiêm, ăn nhiều bánh kẹo ngọt, uống nước có gas, cà phê…

Nếu trẻ đang bú mẹ mà mẹ cũng bị táo bón thì cần điều trị táo bón cho mẹ bằng cách: lúc này, mẹ cần uống nhiều nước khoảng 2,5 đến 3lít nước một ngày. Ngoài ra mẹ nên ăn nhiều rau xanh và quả chín có tính chất nhận tràng như trên, có thể ăn thêm sữa chua hàng ngày.

Nếu trẻ có bú sữa ngoài cần chọn cho trẻ loại sữa có bổ sung thêm chất xơ.

Trường hợp với trẻ dưới 1 tuổi bạn có thể tác động bên ngoài bằng cách xoa bụng cho trẻ theo khung đại tràng từ phải sang trái ngày 3-4 lần vào khoảng cách giữa 2 bữa để kích thích làm tăng nhu động ruột. Với trẻ lớn thì tăng cường vận động cơ thành bụng và cơ tròn hậu môn bằng cách cho trẻ chạy nhảy nô đùa, tập thể dục, thể thao thường xuyên.

Ngoài ra, mẹ cũng nên tập cho trẻ đi đại tiện đúng giờ quy định, chọn thời gian lúc nào trẻ không vội vã, thường nên chọn sau bữa ăn vì lúc này nhu động ruột hoạt động tăng, nên tránh bắt trẻ ngồi bô hoặc ngồi bệ xí quá lâu.

Với trường hợp táo bón do nứt hậu môn cần rửa sạch hậu môn, bôi dung dịch natri bạc 2%.

Khi điều trị bằng chế độ ăn không khỏi thì mới nên sử dụng tới dược phẩm như dùng thuốc và thụt tháo theo chỉ dẫn của bác sĩ. Như cho trẻ uống dầu Parafin vào buổi sáng, các loại thuốc có chứa magie sunphát có tác dụng nhuận tràng hay các loại thuốc có chứa vi khuẩn sống dưới dạng đông khô như: cốm vi sinh (Biobaby); Biosyptin, lactomin, lactylac, biofidin… làm cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột.

Thụt tháo là biện pháp cuối cùng có thể dùng nước ấm có pha Glyxerin hoặc mật ong: 30-40ml đối với trẻ dưới 1 tuổi và 100-250 ml đối với trẻ trên một tuổi. Tuy nhiên nếu dùng kéo dài có thể gây giãn trực tràng và đại tràng sichma tạo thành thói quen nếu không thụt tháo trẻ không tự đi ngoài được.

Ngoài ra, mẹ cũng cần lưu ý đưa trẻ tới bệnh viện khám ngay khi trẻ có những dấu hiệu cơ bản sau:

Táo bón kéo dài trên một tuần, thay đổi chế độ ăn không có tác dụng
Táo bón sau khi trẻ mới sinh, bụng chướng.
Táo bón ảnh hưởng đến sức khoẻ : kém ăn, gầy sút, suy dinh dưỡng, kèm theo nôn.

bé bị táo bón lâu ngày 2

Các bà mẹ phải làm gì khi trẻ bị táo bón

1. Một trong những nguyên nhân chính gây ra táo bón ở trẻ chính là lượng nước quá ít trong cơ thể bé. Vì vậy, biện pháp khắc phục có hiệu quả nhất với những em bé đang bị táo bón là cha mẹ bé nên tích cực cho con uống nhiều nước mỗi ngày. Hãy bắt đầu ngày mới cho trẻ bằng một cốc nước sau khi thức dậy sẽ giúp rất nhiều để chữa và hạn chế triệu chứng táo bón.

2. Cho bé uống 2 muỗng canh đường trong đêm trước khi đi ngủ. Trẻ cũng có thể uống kèm chúng với sữa nếu trẻ thích. Bạn sẽ thấy kết quả không ngờ vào buổi sáng hôm sau.

3. Những trái cây như đu đủ chín, chuối chín cực kỳ hiệu quả trong việc chữa táo bón. Cha mẹ bé nên cho trẻ ăn một quả đu đủ chín hoặc vài quả chuối chín hàng ngày để cho kết quả điều trị táo bón tốt hơn.

4. Nước ép bắp cải cũng được coi là một biện pháp khắc phục tại nhà đơn giản mà hiệu quả khi con bạn bị táo bón. Lấy một nửa cốc nước ép bắp cải và uống 2 lần/ ngày để điều trị táo bón.

5. Uống hỗn hợp nước muối để điều trị táo bón bằng cách sử dụng ¼ muỗng cà phê muối Epsom và cho 1/2 ly nước.

6. Cho bé uống nước cam vào buổi sáng sớm với một dạ dày trống rỗng, hoặc uống chúng trước khi đi ngủ vào ban đêm cũng hữu ích trong điều trị táo bón.

7. Một ly nước ép táo trước khi đi ngủ cũng rất hiệu quả để điều trị táo bón.

8. Uống hỗn hợp nước nóng với vài giọt chanh cùng một chút muối vào buổi sáng sớm là một cách tuyệt vời để loại trừ táo bón. Được biết, biện pháp này cho kết quả điều trị táo bón khá nhanh chóng.

9. Cho con uống một khối lượng bằng nhau của nước cà rốt ép và nước ép rau bina trước khi đi ngủ.

10. Cho bé kết thân với nhiều các loại rau xanh có vị ngọt mát, nhiều chất xơ trong chế độ ăn uống hàng ngày như ăn rau lang luộc, rau ngót cũng có tác dụng nhuận tràng và điều trị táo bón rất tốt.

Xử trí khi bé táo bón, đi cầu ra máu

Hỏi: Con nhà em 22 tháng, nặng 15kg, thường xuyên bị táo bón. Mỗi ngày cháu ăn hai chén cháo cùng với nhiều rau như mồng tơi, bó xôi…

Hai tháng trước có đi khám bác sĩ cho uống Duphalac (10 gói) thì bé đi bình thường mỗi ngày. Khi ngừng thuốc thì bé vẫn táo bón như cũ, hai ngày đi tiêu một lần, phân cũng có ra tí máu. Xin hỏi nếu dùng thuốc này lâu dài có được không ạ. Hiện bé đang uống mỗi lần nửa gói và hai ngày uống một lần do phân hơi lỏng. Xin cảm ơn bác sĩ (Lam Thanh).

bé bị táo bón lâu ngày 3

Trả lời của bác sỹ chuyên khoa nhi:

Chào bạn, con bạn đang có tình trạng táo bón mạn với biểu hiện ít đi cầu, phân cứng và có máu. Bạn chỉ cần cho bé uống thuốc làm mềm phân (Duphalac) thì tình trạng có cải thiện nhưng khi ngưng thuốc thì táo bón tái diễn lại. Điều này chứng tỏ táo bón của con bạn là dạng chức năng thôi, không do bất thường của thần kinh hay cấu tạo ruột, có thể cải thiện bằng chế độ sinh hoạt, dinh dưỡng và tập luyện.

Trước tiên, để bé đi cầu đều đặn và dễ dàng mỗi ngày thì khối lượng phân phải đủ lớn để kích thích bóng trực tràng gây cảm giác mắc đi cầu và phản xạ tống xuất, phân phải đủ mềm để đi cầu không đau, không chảy máu, không làm bé sợ mà nín không dám đi. Ngoài ra, nhu động ruột phải đủ mạnh để tống chất thải xuống và tống ra ngoài. Để cả quá trình này dễ dàng, chế độ sinh hoạt và dinh dưỡng phải phù hợp với bé.

Để khối phân đủ lớn, bạn cần tăng thêm chất xơ trong thức ăn. Hiện nay con bạn ăn 2 chén cháo với nhiều rau, nhưng có lẽ chưa đủ nhu cầu của bé. Bạn có thể chia 2 chén cháo thành 3 bữa, để có thể tăng lượng rau lên thêm nữa. Ngoài ra thêm trái cây có nhiều xơ sau bữa ăn. Vì con bạn đã ở mức béo phì, do đó tôi không khuyến cáo bạn tăng thêm phần tinh bột hoặc chất béo, nhưng vẫn phải đảm bảo đủ cho nhu cầu phát triển của lứa tuổi. Bạn cũng cần xem lại chế độ sữa cho bé, xem có quá dư thừa không, cách pha hay thành phần chưa phù hợp làm bé béo phì mà lại bón. Thuốc nhuận tràng bạn dùng cũng giúp làm tăng khối lượng phân cho bé nên bé dễ đi cầu.

Để phân mềm, các thức ăn phải cân đối về thành phần, một số loại khi dư thừa sẽ gây táo bón, chẳng hạn quá dư đạm, một số dạng chất béo, nhiều canxi hay sắt… Thiếu nước cũng là nguyên nhân làm phân rắn hơn. Ngoài ra những bé bị bón lâu ngày, sau một thời gian đi cầu bị đau sẽ có xu hướng nín đi cầu, nên phân bị ứ trong ruột già bị hút nước càng khô cứng hơn, bé càng sợ đi cầu hơn. Vì vậy, người ta có thể dùng thuốc làm mềm phân và bơm hậu môn tạo phản xạ đi cầu đều đặn, tránh ứ phân trong thời gian đầu mới điều trị để chặt đứt vòng luẩn quẩn này. Tuy nhiên, thuốc nhuận tràng dùng lâu dài có thể bị giảm tác dụng, đòi hỏi tăng liều dần, dùng nhiều có thể gây chướng bụng do bị vi khuẩn trong đại tràng lên men nên cũng không phải là giải pháp lâu dài và cơ bản.

Nhu động ruột liên quan nhiều đến vận động chủ động của bé. Bé cần đi, đứng, chạy nhảy thường xuyên. Những bé béo phì thường lười vận động vì mau mệt, thích ăn ngọt, ăn thịt, ăn cơm mà không thích ăn rau trái cây nên dễ bị bón hơn các bé khác.

Bạn nên cho bé đến khám dinh dưỡng để đánh giá và điều chỉnh chế độ nuôi dưỡng, bên cạnh dùng thuốc phải có những biện pháp thay đổi cơ bản trong sinh hoạt để có hiệu quả lâu dài và an toàn cho bé nhé.

Có mật ong, bé hết ngay táo bón

Mời các mẹ cùng đọc chia sẻ kinh nghiệm của 1 mẹ dùng mật ong để thụt tháo cho bé nhé.

Cách hay đơn giản nhưng cực kỳ hiệu quả với những bé đang gặp khó khăn ‘đầu ra’.

Họ ngoại nhà em vốn có bệnh máu nóng “gia truyền” nên từ khi sinh bé Bi, em đã rất lo lắng vì sợ con cũng vậy. Trong thời gian nuôi con bằng sữa mẹ, em luôn cố gắng tham khảo rất nhiều sách báo về chế độ ăn uống của mẹ để tạo được sữa mát cho con. Nhờ vậy mà suốt 5 tháng đầu sau sinh, bé nhà em luôn đi ị đều đặn, phân đẹp màu vàng tươi.

Mọi chuyện chỉ thực sự vất vả khi Bi bắt đầu chuyển qua giai đoạn ăn dặm. Ngày cho con ăn thìa bột ngọt đầu tiên, em hạnh phúc khi bé tỏ ra hợp tác, ăn hết veo 60ml bột. Tuy nhiên từ đó, Bi cũng bắt đầu có những dấu hiệu của táo bón. Ban đầu là những lần rặn ị khó khăn, về sau, có khi mãi 5 ngày liền con mới chịu đi một lần. Dù em đã cố hết sức xi và xoa bụng cho con, Bi vẫn thật khổ sở mỗi khi ngồi ị. Đặc biệt là những ngày nắng nóng như mấy hôm nay càng khiến bé bị mất nước sinh ra táo bón. Nhìn con rặn đến đỏ cả mặt mà em không cầm được nước mắt. Cứ tự trách bản thân mình nuôi con sao vụng quá.

Quyết tâm chữa táo bón cho con, em bắt đầu lên mạng ‘lùng sục’ kinh nghiệm. Ngó đông ngó tây, cuối cùng em cũng tìm được một mẹo dân gian là dùng mật ong thụt cho con. Sau khi bàn bạc kỹ lưỡng, vợ chồng em quyết định làm theo.

Sáng hôm đấy đến giờ xi ị, em khệ nệ bê ra bình mật ong rừng bà nội ở quê gửi lên đã từ lâu lắm. Hai vợ chồng cẩn thận dùng đầu tăm bông mềm, nhúng vào chút mật ong pha nước ấm với tỷ lệ 1:3 (1 mật ong; 3 nước) rồi nhẹ nhàng đút sâu vào ‘đầu ra’ để thụt cho con. Ngạc nhiên thay, sau 5 phút bôi mật ong, Bi bắt đầu đánh hơi rồi đi tiêu dễ dàng. Nhìn con cười toe toét mà cả nhà em thở phào nhẹ nhõm. Vậy là, mật ong đã cứu vợ chồng trẻ chúng em một bàn thua trông thấy.

Đem chuyện tốt khoe với mẹ chồng, mẹ em tủm tỉm nói: “Bà gửi lên vì biết thế nào hai đứa cũng có lúc cần”. Và mẹ ân cần dặn dò rằng không nên quá lạm dụng mật ong thụt cho bé vì lâu dần sẽ khiến bé mất đi phản xạ rặn. Nguyên nhân gây táo bón không phải là do cơ năng mà chủ yếu là bởi chế độ dinh dưỡng: uống ít nước, ăn ít chất xơ, nhiều chất đạm. Có lẽ để phòng tránh triệt để, em nên bắt đầu bằng việc thay đổi thực đơn ăn dặm cho con. Tác động vào “đầu vào” của bé trước bao giờ cũng tốt hơn tác động vào “đầu ra” các mẹ nhỉ?!

Hướng dẫn các mẹ tìm nguyên nhân và xử trí đúng cách khi bé bị sốt cao liên tục

Có nhiều nguyên nhân khiến cho trẻ bị sốt cao, các bệnh như nhiễm trùng, sốt siêu vi, cảm nhiệt hoặc các bệnh nguy hiểm khác đều khiến cho trẻ sốt cao liên tục. Cha mẹ cần trang bị kiến thức để giúp trẻ hạ nhiệt độ khi bị sốt nếu không bé sẽ bị sốt co giật. Mời các bậc cha mẹ tham khảo lời khuyên của các bác sỹ nhi khoa về cách xử trí đúng cách khi bé bị sốt.

Hỏi: Con tôi năm nay 25 tháng tuổi cách đây 2 tuần cháu bị tiêu chảy và đã hết bệnh nhưng hai hôm nay cứ đến tối là cháu phát nóng sốt cao, hay quấy khóc, sáng vẫn đi nhà trẻ và chỉ sốt vào ban đêm thôi. Xin bác sỹ tư vấn dùm tôi xem cháu bị bệnh gì mà lạ quá. Rất mong nhận được hồi âm của Bác sỹ sớm.

xử trí khi trẻ bị sốt cao 1

Trả lời của bác sỹ nhi khoa:

Bạn có thể hoảng hốt khi thấy thân nhiệt của bé tăng lên, nhưng thực tế là điều đó không quá nghiêm trọng. Bản thân tình trạng sốt không gây hại, và đôi khi nó lại là một dấu hiệu tốt, vì đó thường là cách cơ thể chống lại sự nhiễm trùng.

Không phải tất cả các cơn sốt đều cần điều trị. Tuy nhiên, sốt cao có thể làm cho trẻ khó chịu và gặp một số vấn đề như cơ thể mất nước. Hãy lấy lại bình tĩnh và thực hiện những bước cơ bản nhất như lấy nhiệt độ chính xác của cơ thể bé và tìm cách làm cho trẻ dễ chịu hơn. Dưới đây là một số biện pháp điều trị sốt, và những dấu hiệu cần tới sự giúp đỡ của bác sĩ.

Sốt là gì?

Sốt là hiện tượng xảy ra khi “bộ chỉnh nhiệt” trong cơ thể làm tăng thân nhiệt lên cao hơn mức bình thường. Bộ chỉnh nhiệt này nằm trong vùng não có tên là hypothalamus, chuyên điều khiển thân nhiệt và những cảm giác như đói, khát… Hypothalamus biết rõ cơ thể cần ở nhiệt độ bao nhiêu (thường là khoảng 37 độ C) và sẽ gửi “lời nhắn” tới cơ thể duy trì nhiệt độ này.

Thân nhiệt của đa số mọi người thường không ổn định và dao động nhẹ trong một ngày: Hơi thấp vào buổi sáng và hơi cao vào chiều tối. Nhiệt độ cơ thể sẽ thay đổi khi trẻ chạy, nhảy, đùa nghịch hoặc và tập thể dục.

Trong những trường hợp đặc biệt, vùng não hypothalamus sẽ điều chỉnh lại và yêu cầu cơ thể tăng nhiệt độ lên cao. Mục địch là để phản ứng với sự nhiễm trùng, một căn bệnh hoặc lý do nào đó. Vậy, vì sao hypothalamus lại ra lệnh cho cơ thể thay đổi nhiệt độ? Các nhà khoa học tin rằng việc thay đổi này là cách cơ thể chống lại vi khuẩn gây nhiễm trùng và biến cơ thể thành nơi không mấy dễ chịu với chúng.

Cái gì gây sốt?

Nên nhớ rằng bản thân sốt không phải là một căn bệnh – nó chỉ là một triệu chứng của sự cố tiềm ẩn nào đó. Có một vài nguyên nhân gây sốt như sau:

- Nhiễm trùng: Phần lớn sốt là do nhiễm trùng hoặc một căn bệnh nào đó gây ra. Sốt có nhiệm vụ giúp cho cơ thể chiến đấu với sự nhiễm trùng bằng cách kích thích cơ chế phòng vệ tự nhiên.

- Mặc quá nhiều quần áo: Trẻ nhỏ, đặc biệt là sơ sinh, rất dễ bị sốt nếu được ủ quá kín hoặc ở trong một môi trường nóng. Nguyên nhân là do các bé chưa thể tự điều tiết thân nhiệt.

- Tiêm chủng: Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ thỉnh thoảng bị sốt nhẹ sau khi tiêm phòng.

- Mọc răng cũng có thể làm tăng thân nhiệt, nhưng chỉ ở mức nhẹ. Nếu thân nhiệt của bé cao hơn 37,8 độ C thì đó không phải là do mọc răng.

Phải làm gì nếu cơn sốt là dấu hiệu của một bệnh gì đó nghiêm trọng?

Trước đây, các bác sĩ thường khuyên trị sốt chỉ dựa trên cơ sở thân nhiệt. Song hiện nay, người ta khuyến cáo cần kết hợp trị sốt và kiểm tra toàn bộ thể trạng của trẻ.

Những trẻ có thân nhiệt thấp hơn 38,9 độ C thường không cần dùng thuốc, trừ phi các em thấy khó chịu. Tuy nhiên, điều này có ngoại lệ, đó là nếu trẻ dưới 3 tháng tuổi có nhiệt độ được đo ở hậu môn là 38 độ C hoặc cao hơn, phải gọi ngay bác sĩ hoặc đưa trẻ đi cấp cứu. Đối với bé sơ sinh, sốt nhẹ cũng có thể là dấu hiệu của sự nhiễm trùng nghiêm trọng. Còn với trẻ lớn hơn, hãy xem xét hành vi và mức độ hoạt động của bé. Bằng cách này, bạn có thể quyết định liệu bé chỉ sốt nhẹ hay thực sự cần tới bác sĩ.

Tình trạng sốt có thể không nghiêm trọng nếu trẻ:

- Vẫn thích chơi

- Đang ăn uống tốt

- Tỉnh táo và mỉm cười đáp lại

- Sắc da bình thường

- Trông tươi tỉnh hơn khi thân nhiệt hạ

Nếu vì sốt mà trẻ không muốn ăn thì bạn cũng đừng quá lo lắng. Tình trạng này rất phổ biến đối với trường hợp sốt do nhiễm trùng.

Làm sao để biết bé sốt thế nào?

Một cái hôn lên chán bé hoặc đặt tay nhẹ lên da cũng đủ để biết được bé có sốt hay không. Tuy nhiên, phương pháp kiểm tra thân nhiệt bằng xúc giác này phụ thuộc nhiêu vào cảm giác chủ quan và không thể cho biết chính xác nhiệt độ của bé.

Hãy sử dụng cặp nhiệt độ đáng tin cậy, bạn sẽ biết trẻ bị sốt hay không nếu thân nhiệt ở một trong các mức dưới đây:

- Từ 38 độ C trở lên khi đo ở hậu môn

- Từ 37,5 độ C trở lên nếu đo ở miệng

- Từ 37,2 độ C nếu đo ở nách.

Tuy nhiên, sốt cao bao nhiêu độ cũng không thể cho biết vì sao bé ốm. Cảm lạnh hoặc nhiễm virus có thể là nguyên nhân (thường từ 38,9 đến 40 độ C), song đôi khi nó không thực sự nghiêm trọng. Ngược lại, có khi bé không sốt, hoặc thậm chí còn bị hạ thân nhiệt bất thường (đặc biệt là ở trẻ nhỏ), lại tiềm ẩn một sự nhiễm trùng nghiêm trọng.

Do cơn sốt có thể tăng hoặc giảm, nên trẻ đều trải qua cảm giác gai lạnh. Nguyên nhân là do cơ thể cố gắng sinh thêm nhiệt khi sốt cao. Sau đó, bé có thể vã mồ hơi khi cơ thể hạ sốt.

Đôi khi, trẻ bị sốt có thể thở gấp hơn bình thường và nhịp tim nhanh hơn. Hãy gọi ngay cho bác sĩ nếu bé có dấu hiệu khó thở, thở nhanh hơn nhiều so với bình thường hoặc tiếp tục thở gấp sau khi hạ sốt.

Với mức sốt vừa 38-38,5oC thì cơ thể trẻ có thể chịu đựng được nhưng với mức sốt cao từ 39-40oC trở lên trong thời gian dài có thể làm trẻ bị co giật, gây thiếu ôxy não. Trẻ bị sốt cao co giật thường gặp ở lứa tuổi từ 6 tháng đến 5 tuổi. Khi bé bị sốt trên 39oC thường xuất hiện cơn co giật và cơn co giật này mất đi khi hạ thân nhiệt xuống dưới 39oC. Do vậy các bà mẹ cần nhanh chóng hạ sốt khi trẻ bị sốt cao. Cần cởi bỏ bớt quần áo cho trẻ, dùng thuốc hạ sốt, lau mát hạ sốt, cho bé bú hoặc uống nhiều nước và đưa trẻ đến cơ sở y tế.

Lau mát hạ sốt cho bé khi:

- Bé bị sốt cao trên 39oC.

- Bé bị sốt cao kèm co giật hoặc có dấu hiệu sắp sửa co giật.

Chuẩn bị dụng cụ:

- 5 khăn nhỏ để lau mát.

- Thau nước ấm.

- Nhiệt kế.

Thực hiện:

- Đặt bé nằm ngửa trên giường.

- Cởi bỏ quần áo trẻ.

- Lấy nhiệt độ bé.

- Rửa tay.

- Chuẩn bị nước lau mát:

Cho ít nước lạnh vào trong thau.

+ Cho nước nóng vào, bằng ½ lượng nước lạnh.

+ Kiểm tra nhiệt độ nước bằng cách nhúng khuỷu tay vào thau nước, cảm giác ấm giống như nước tắm em bé.

- Lau mát

+ Nhúng 5 khăn vào thau nước và vắt hơi ráo.

+ Đặt 2 khăn ở hõm nách, 2 khăn ở bẹn và 1 khăn lau khắp người.

+ Không đắp lên trán vì ít có tác dụng hạ sốt. Không đắp lên ngực vì tăng nguy cơ viêm phổi.

+ Thay khăn mỗi 2-3 phút.

+ Theo dõi nhiệt độ nước, cho thêm nước nóng nếu thấy nước không còn ấm.

+ Lấy nhiệt độ bé mỗi 15 phút, ngưng lau mát khi nhiệt độ dưới 38,5oC.

+ Lau khô và mặc quần áo mỏng cho trẻ.

Những điều không nên làm:

- Không nên ủ ấm, mặc nhiều lớp quần áo cho trẻ khi trẻ đang sốt.

- Không nên nặn chanh vào miệng và mắt trẻ.

- Không nên dùng nước đá lạnh để lau máu hạ sốt cho trẻ.

- Không giật tóc, vỗ vào người trẻ khi trẻ đang bị co giật, càng khiến trẻ bị kích thích, co giật nhiều hơn.

Trường hợp trẻ đã dùng thuốc hạ sốt, lau mát…mà trẻ vẫn không hạ sốt, bạn nên đưa trẻ đến cơ sở y tế.

xử trí khi trẻ bị sốt cao 2

Trẻ bị sốt cao thường do nguyên nhân gì?

Sốt không phải là một căn bệnh, nó thường là triệu chứng của một số bệnh tật tiềm ẩn khác, làm tăng nhiệt độ cơ thể trẻ hơn mức bình thường. Những bệnh tật đó có thể là gì và cần đối phó ra sao?

Điều quan trọng là cha mẹ phải cố gắng xác định nguyên nhân gây sốt cao của trẻ – đặc biệt là khi trẻ sốt tới 390 hay sốt cao hơn thì đưa trẻ đến bác sĩ là cần thiết.

Khi trẻ sốt tới 39°C hay sốt cao hơn phải đưa trẻ tới bác sĩ ngay lập tức.

Các bệnh nhiễm trùng sẽ khiến trẻ sốt cao liên tục

Nhiễm trùng là thủ phạm phổ biến đằng sau hầu hết các cơn sốt của trẻ bởi vì bất kỳ loại nhiễm trùng nào đều có thể gây sốt. Tuy nhiên những nhiễm trùng hàng đầu có xu hướng gây sốt cao cho trẻ bao gồm viêm màng não, viêm phổi và nhiễm trùng tai.

Viêm màng não ảnh hưởng đến chất lỏng, màng xung quanh não và tủy sống của trẻ. Nó thường xuất hiện ở trẻ với biểu hiện bị sốt cao kèm theo nhức đầu, cứng cổ và ói mửa. Các bác sĩ gia đình khuyến cáo rằng các bậc cha mẹ nên đưa con đến phòng cấp cứu ngay lập tức nếu họ nghi ngờ con bị viêm màng não.

Viêm phổi thực chất là một nhiễm trùng phổi có ảnh hưởng đến sức khỏe của nhiều trẻ mỗi năm. Cùng với triệu chứng sốt cao, trẻ bị viêm phổi có thể sẽ bị đau ngực và ớn lạnh. Trong khi ho, sẽ có đờm nhầy màu vàng hoặc xanh.

Bên cạnh đó, khi trẻ em bị sốt cao do nhiễm trùng tai thường khiến trẻ có hành vi cáu kỉnh.

Nhiều bệnh tật nguy hiểm khác

Sốt cao ở trẻ có thể là dấu hiệu đầu tiên của bệnh ung thư, MedlinePlus cảnh cáo. Đặc biệt có thể kể tới là bệnh bạch cầu, bệnh Hodgkin (ung thư gan, to lá lách) và ung thư hạch không Hodgkin.

Ngoài ra, một loạt các bệnh tự miễn dịch khác cũng có thể gây sốt cao ở trẻ như viêm khớp dạng thấp có ảnh hưởng đến các khớp xương của cơ thể và các mô liên kết hoặc gặp các rối loạn viêm ruột như bệnh Crohn và viêm loét đại tràng.

Cảm nhiệt

Trung tâm cảnh báo kiểm soát dịch bệnh Mỹ cho biết: Trẻ em, người cao tuổi và những người có bệnh mãn tính là những đối tượng dễ bị cảm nhiệt ghé thăm khi cơ thể mất khả năng điều chỉnh nhiệt độ riêng của mình.

Khi ấy, trẻ có thể bị sốt cao 390 hoặc hơn. Trẻ bị cảm nhiệt nếu không nhận được sự chú ý khẩn cấp của người lớn và sự can thiệp khẩn cấp của y tế có thể bị chết hoặc tàn tật vĩnh viễn.

Vì thế, các phụ huynh nên giới hạn thời gian mỗi khi trẻ vui chơi bên ngoài thời tiết nóng. Hãy chắc chắn bạn mang theo nhiều nước cho con uống và không để chúng ngồi trong xe trong thời gian chờ đợi bạn làm việc gì đó quá lâu vì tất cả đều có thể gây ra cảm nhiệt.

Mẹo xử lý khi trẻ bị sốt

Trẻ em bị sốt là việc thường xảy ra trong quá trình phát triển của con người. Hiểu đúng về sốt sẽ giúp các bậc cha mẹ xử lý đúng tình trạng sốt của trẻ. Dưới đây là những hướng dẫn về cách nhận biết về các trường hợp sốt, cách xử lý khi trẻ bị sốt và cách sử dụng thuốc trong khi trẻ bị sốt.

xử trí khi trẻ bị sốt cao 3

Sốt theo quan niệm của các nhà khoa học

Thần kinh trung ương có “trung tâm điều nhiệt”. Khi có tác nhân lạ (vi khuẩn, virus, ký sinh trùng…) gọi là kháng nguyên xâm nhập thì hệ thống miễn dịch của cơ thể thế lập tức hoạt động, sinh ra kháng thể để chống lại. Quá trình đó sẽ sinh ra nhiều năng lượng làm cho nhiệt độ cơ thể lên cao. Trung tâm điều nhiệt phải chỉ huy, buộc cơ thể đề kháng lại bằng phản ứng sốt làm cho nhiệt thoát ra bên ngoài.

Không như suy nghĩ của nhiều người, sốt có những điểm có lợi và không có lợi cho sức khỏe.

Những điểm có lợi của sốt:

Làm cho thân nhiệt hạ xuống. Nếu không sốt, nhiệt không thoát ra bên ngoài được, cơ thể tiếp tục bị hâm nóng, sẽ có hại.

Là dấu hiệu cho thấy trẻ em đang bị bệnh. Căn cứ vào nhiệt độ lúc sốt và cách sốt có thể hiểu một phần nguyên nhân.

Là dấu hiệu sinh tồn. Trẻ em còn sốt và sốt cao chứng tỏ là trẻ em còn sống, còn sức đề kháng. Kinh nghiệm lâu đời làm cho bà mẹ có phản ứng tự nhiên là lúc ngủ với con bị bệnh thường sờ xem con còn nóng (sống) hay lạnh ngắt (chết).

Những điểm có hại của sốt:

Sốt cao và/ hoặc kéo dài sẽ mệt nhọc, kém ăn, mất ngủ, suy nhược.

Sốt cao và/ hoặc kéo dài gây mất nước, muối. Mất nước. Muối sẽ làm cho máu bị cô đặc lại, huyết áp hạ xuống, máu khó đi đến các cơ phận, tim đập nhanh lên để bù, song đập nhanh quá sẽ bị loạn và suy. Sự mất muối và nước làm mất cân bằng điện giải, gây nhiều hệ lụy khác ở tế bào, ở các tổ chức. Sốt trong bệnh sốt xuất huyết là điển hình cho tác hại kiểu này.

Sốt cao sẽ gây cơn co giật. Co giật nặng sẽ để lại di chứng não có khi là di chứng rất năng nề.

Cách giải quyết của cha mẹ khi trẻ em bị sốt:

Cần hiểu rõ vì sao trẻ em bị sốt, vì sao trẻ mãi không hết sốt trước khi có quyết định sử dụng thuốc sốt. Khi vi khuẩn, virút, ký sinh trùng… chưa bị loại ra khỏi cơ thể thì quá trình chống lại chúng vẫn tiếp tục, thân nhiệt vẫn còn tăng và trung tâm điều nhiệt vẫn hoạt động, nên không thể nào hết sốt. Hãy đưa con đến cơ sở y tế. Thầy thuốc sẽ tìm nguyên nhân gây sốt và chỉ định thuốc điều trị. Sử dụng thuốc chữa nguyên nhân mới chính là điều trị tận gốc cơn sốt, còn thuốc hạ sốt chỉ là thuốc phụ trợ, có tác dụng ức chế một phần trung tâm điều nhiệt làm giảm sốt, chứ không hạ được sốt.

Cần dùng thuốc hạ sớm nhằm giảm tác hại do sốt cao gây ra song không nên muốn hết sốt nhanh mà một ngày dùng nhiều loại và liều cao thuốc hạ sốt. Dùng thuốc hạ sốt mạnh liều cao, trẻ có thể sẽ bị ngộ độc.

Những trường hợp sốt của trẻ thông thường và cách giải quyết

Trẻ có thể bị sốt rất nhẹ, hâm hấp nóng (dưới 38 độ C):

Thường hay xảy ra vào mùa đông xuân.

Có thể nghi ngờ trẻ bị nhiễm virút gây cảm cúm thông thường.

Nếu trẻ khỏe mạnh, sức đề kháng tốt, trong khoảng 4 – 5 ngày virút tự thoái lui, không nhất thiết phải dùng thuốc hạ sốt, nếu có thì cũng chỉ dùng loại thông thường bao gồm các thảo dược.

Trẻ có thể lúc đầu sốt nhẹ nhưng ngay sau đó sốt cao (khoảng 38,5 độ C):

Có thể nghi trẻ bị nhiễm một loại vi khuẩn nào đó.

Cần dùng thuốc hạ sốt sớm, nếu dùng muộn, trên đường đến viện có thể sốt cao hơn rồi co giật.

Thầy thuốc sẽ dựa vào lâm sàng và xét nghiệm, xác định nhiễm khuẩn gì, cho dùng kháng sinh thích hợp.

Trẻ có thể bị sốt rất cao (trên 38,5 – 390C) rất đột ngột kèm theo đau họng:

Trường hợp này nghi ngờ có thể bị nhiễm liên cầu khuẩn tán huyết A (S. hemoliticque group A).

Phải đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế, nếu đúng thì phải dùng kháng sinh đặc hiệu (tiêm penicilin, liều cao).

Theo phác đồ điều trị, từ khi nhiễm liên cầu khuẩn tán huyết đến khi dùng kháng sinh điều trị ở phải trong vòng 10 ngày.

Trẻ chỉ hâm hấp nóng về buổi chiều, kém ăn, suy yếu, dùng thuốc sốt không đáp ứng, không dứt:

Nên đưa trẻ đi khám xem có bị nhiễm lao không

Trẻ ho là chính, lúc đầu có sốt rất nhẹ không đáng kể song cứ ho dai dẳng hàng tháng:

Nên khám xem có phải bị ho gà không

Xử trí khi trẻ bị sốt co giật tại nhà

Hỏi: Tôi nghe nói, trẻ co giật khi sốt thì lần sau sốt rất dễ bị lại. Nếu bé co giật lần nữa thì tôi phải làm gì để tránh biến chứng?

Trả lời của bác sỹ nhi khoa:

Sốt cao co giật là hội chứng hay gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, biểu hiện bằng những cơn co giật, mắt trợn ngược sùi bọt mép, nghiến chặt răng hoặc cơn co cứng, hơi thở nông, khò khè do tăng tiết đàm. Đây là tình trạng bệnh lí đòi hỏi phải xử trí cấp cứu, vì nó có thể đe dọa tính mạng bệnh nhi trước mắt hoặc để lại những di chứng nặng nề về sau như: động kinh, chậm phát triển tâm trí, vận động, đặc biệt là những trường hợp sốt cao co giật kéo dài.

Sau cơn sốt trẻ tỉnh táo hoàn toàn và không bị yếu tay chân hoặc có biểu hiện bất thường gì khác. Nguyên nhân thường do nhiễm khuẩn và có liên quan đến yếu tố gia đình. Cơn co giật dễ tái phát và những lần co giật sau có thể xảy ra khi trẻ vừa sốt nhẹ.

Cách xử trí sốt cao co giật tại nhà:

Giữ bình tĩnh kêu người trợ giúp, nhanh chóng tìm một vật cứng phẳng như cán muỗng quấn gạc đặt giữa hai hàm răng để tránh trẻ cắn vào lưỡi, cho trẻ nằm nghiêng sang một bên nếu thấy trẻ tăng tiết nhiều đàm, dùng thuốc hạ sốt qua đường hậu môn, cởi bỏ hết quần áo, lau mát cho trẻ bằng nước ấm ấm.

Những điều không nên làm khi trẻ sốt cao co giật:

- Không nên đắp khăn ướt lên ngực vì trẻ rất dễ bị nhiễm lạnh, viêm phổi.

- Không nên lau rượu hay đắp nước đá, không chà sát chanh lên người trẻ, không chích lễ, không cạo gió, không nặn chanh hoặc đổ bất kỳ nước gì vào miệng khi bé đang co giật.

Nguyên nhân trẻ nói ngọng và cách chữa tật nói ngọng cho bé đúng phương pháp

Hầu hết trẻ em trong độ tuổi tập nói đều nói ngọng. Do đó, chứng nói ngọng của trẻ ở độ tuổi tập nói là bình thường, cha mẹ không nên lo lắng. Tuy nhiên, các bậc cha mẹ cũng cần trang bị kiến thức để khắc phục chứng nói ngọng của con mình đúng phương pháp. Nếu trẻ trên 6 tuổi vẫn nói ngọng, thì đó là bệnh lý.

99,9% trẻ nói ngọng trong khoảng thời gian từ 1 đến 3 tuổi, vì vậy khi con nói ngọng, cha mẹ không nên quá lo lắng về vấn đề này. Cùng với sự phát triển của cơ thể, các bộ phận, chức năng của bé sẽ hoàn thiện theo thời gian. Tuy nhiên tuyệt đối không nói ngọng theo trẻ.

Từ 2-3 tuổi trẻ chưa nói được tròn vành, rõ chữ vì ở lứa tuổi này trẻ đang trong quá trình phát triển về âm, nếu được sửa trẻ có thể tự điều chỉnh nói cho đúng. Đến năm 4-5 tuổi trẻ mới định hình được cách phát âm. 6 tuổi, trước khi đi học, được coi là chuẩn mực để xác định trẻ có nói ngọng hay không.

Nếu con nói ngọng, làm cách nào để sửa tật nói ngọng cho con? Chúng ta hãy cùng các chuyên gia về nhi khoa và ngôn ngữ học tham khảo các phương pháp để con có thể phát âm đúng chuẩn mực.

chữa tật nói ngọng của trẻ 1

Nói ngọng là hiện tượng rối loạn ngôn ngữ

Ngôn ngữ của trẻ được hình thành trên cơ sở các phản xạ có điều kiện, dựa trên tác động của các yếu tố từ môi trường bên ngoài kích thích vào trung tâm nghe.

Nếu có sự trục trặc nào đó trong quá trình hình thành ngôn ngữ sẽ xảy ra hiện tượng rối loạn ngôn ngữ ở trẻ, điển hình là ngọng.

Có 2 dạng nói ngọng ở trẻ

- Nói ngọng sinh lý: cơ quan phát âm có lỗi bẩm sinh như ngắn lưỡi, đầy lưỡi…

- Nói ngọng mang tính xã hội: phát âm lệch so với chuẩn.

Nguyên nhân khiến cho trẻ nói ngọng

- Là do trẻ tự bóp méo âm thanh để truyền đạt ý mình cho người khác hiểu theo suy nghĩ riêng của trẻ.

- Cha, mẹ không sửa ngay những từ nói sai, khiến trẻ tạo thành thói quen mà lặp lại.

- Cha mẹ và những người xung quanh sử dụng sai ngôn ngữ khiến con cái bắt chước.

– Một số bệnh khi trẻ mắc phải gây khó thở, ngạt mũi khiến khi nói trẻ phải thè lưỡi ra để phát âm cũng là nguyên nhân khiến trẻ nói ngọng.

Chia sẻ của các bà mẹ về tật nói ngọng của con mình

Chị Nga, Đống Đa Hà Nội

“Khi con gái tôi ngoài 2 tuổi, cháu bị ngọng hết chữ cái đầu như ‘con gà’ thành ‘on à’, ‘mẹ thành ẹ’, ‘bố thành ố’… Một thời gian uốn nắn, bé cũng có tiến bộ hơn nhưng lại chuyển sang một thể ngọng khác: “Cái kéo” thành “cái kéng”, “con mèo” thành “con mèng”, “con kiến” thành “kiếng”… Kiên trì hướng dẫn con bằng cách cùng con nhắc lại thật chậm những âm con nói sai…đến nay sau hơn 1 năm (cháu đã 3,5 tuổi) tật nói ngọng của cháu gần như đã mất hẳn”

Chị Thúy, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Khi chia sẻ với chúng tôi, chị Thúy tâm sự “ Tôi có hai cậu con trai, vì vỡ kế hoạch nên thời gian sinh 2 cháu rất gần nhau: cháu lớn hơn 3 tuổi, cháu nhỏ 2 tuổi nên gia đình phải nhờ người giúp việc trông nom. Không biết có phải bắt chước nhau không mà hai đứa đều nói ngọng như nhau. Mỗi khi trên TV có chương trình Gangnam style, thì chúng hát và nhảy theo….. nhưng, chẳng ai hiểu chúng hát gì mà chỉ nghe được “gangnam style” thành “anglam tyle”… Ngoài việc bỏ chữ đầu thì những âm chữ “n” chúng đều phát âm thành chữ “l” vì học theo bác giúp việc người Nam Định. Sợ con mình bắt chước, tạo thành thói quen không sửa được nên tôi đành phải cho bác giúp việc nghỉ và lấy người khác. Tôi chưa biết làm thế nào để sửa tật nói ngọng cho bọn trẻ”

Nhận xét của các chuyên gia

Thạc sĩ Hoàng Đình Ngọc, Phó giám đốc Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương cho biết: “Một số trường hợp, chính cách phát âm không chuẩn của cha mẹ khiến trẻ học theo, và nói ngọng chứ không phải do mắc bệnh. Việc phát âm là sự cộng hưởng của nhiều bộ phận, từ khu vực tiếp nhận âm thanh (tai) cho đến các phần góp vào sự phát âm: miệng, lưỡi, răng, môi, thanh quản… Lưỡi quá to, quá dày, răng cửa trên bị khe hở… đều có thể gây ra lỗi phát âm”.

Phó giáo sư -Tiến sĩ ngữ văn Phạm Văn Tình, Phó Tổng biên tập Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư:

“Nói ngọng là cách phát âm không bình thường so với cách cộng đồng vẫn nói. Để sửa tật nói ngọng, vai trò của nhà trường rất quan trọng. Trước hết phải để bản thân trẻ nhận thức được rằng cách nói đấy là sai, nghe buồn cười, phải tập phát âm lại nhiều lần để uốn nắn lại….

Bên cạnh đó, cũng cần phải có sự phối hợp từ phía cộng đồng (gia đình, xã hội). Nếu chỉ cô giáo sửa lỗi ở trường thì chưa đủ nếu về nhà ông bà, bố mẹ không lưu ý sửa. Áp lực của cộng đồng nhiều khi rất lớn. Nó có thể làm mất đi các kỹ năng ngôn ngữ mà trẻ học được từ lớp học. Bởi cộng đồng mới là môi trường sinh ngữ chính của trẻ”, phó giáo sư Tình khuyến cáo.

Cần giúp trẻ tránh các tác nhân hình thành nói ngọng

Các cơ hàm yếu

Cơ hàm yếu là nguyên nhân gây nói ngọng. Vì vậy, bố mẹ cần luyện tập cơ hàm cho con bằng phương pháp: nhai bánh quy giòn, trái cây, rau, các loại thịt…để con có cơ hàm khỏe mạnh.

Các cơ má và lưỡi

Tập động tác súc miệng. Dạy con lăn một vật từ má này sang má khác để con có cơ má và cơ lưỡi mềm mại.

Bệnh dị ứng, cảm lạnh & viêm xoang

Các căn bệnh về đường hô hấp khiến trẻ ngạt mũi phải thở bằng miệng….dẫn đến phát âm khó hoặc sai từ. Vì vậy khi con bị các bệnh trên, bố mẹ phải điều trị triệt để bệnh cho trẻ, để trẻ thở tự nhiên cả bằng mũi và miệng.

Cha mẹ phát âm không chuẩn

Khi cha mẹ phát âm không chuẩn, nhất là âm “l” và “n” khiến bé nhầm lẫn về âm sắc. Vì vậy, cha mẹ cần học cách phát âm thật chuẩn, là tấm gương để con học theo.

Phương pháp sửa nói ngọng

- Giúp bé thoải mái, thả lòng người và thật bình tĩnh trước khi nói.

- Không hỏi dồn khiến bé lúng túng, nói lắp, ngọng…

- Dạy bé cách đặt lưỡi thế nào, hơi bật ra làm sao và làm mẫu để bé dễ dàng bắt chước và học theo.

- Nói chuyện, hát cho bé nghe: dùng từ ngữ thật chuẩn và thường xuyên, bé sẽ có một quá trình để bắt chước theo những bài hát, câu chuyện mà bạn kể.

– Với những từ bé bị ngọng chúng ta sẽ kể lại phần đó nhiều lần để bé ghi nhớ và làm theo.

- Cho bé tiếp xúc với môi trường rộng lớn bên ngoài. Việc tăng cường những hoạt động giao tiếp, nhất là ở chỗ đông người sẽ khiến bé nhanh nhẹn, mau miệng hơn.

- Hạn chế để bé tiếp xúc với người hay bị nói ngọng.

- Khi con ngọng, tuyệt đối không nhại lại, điều này khiến bé sẽ không ý thức được việc phát âm chuẩn là việc nên làm.

Lưu ý với các bậc cha mẹ:

- Cha mẹ nên kiên trì trong việc dạy bé nói, không nôn nóng.

- Nếu nghi ngờ bé nói ngọng xuất phát từ yếu tố bệnh lý, cần đưa con đi khám ngay.

chữa tật nói ngọng của trẻ 2

Kinh nghiêm khắc phục chứng nói ngọng cho con của các mẹ

Nói ngọng là một tật mà không ít trẻ mắc phải. Nghe con líu lo nói ngọng đúng là có cái dễ thương, buồn cười, ngồ ngộ song bậc phụ huynh nên giúp con sửa nhanh tật này để tránh những thiệt thòi khi đến tuổi đi học.

“Dỏng tai” nghe con nói ngọng

Nghe con 5 tuổi líu lo hát “ni ní ni, ní nì ni, thật nà hay hay hay…” – bài Thật là hay theo chị Xuân Mai trên tivi mà chị Thư (Hà Đông, Hà Nội) nẫu hết cả ruột.

Chị nhớ lại trước đây học cấp 3, cùng lớp chị có một cậu bạn thân cũng nói ngọng, mỗi lần cậu phát biểu trước lớp là cả lớp được cậu đãi vài tràng cười nghiêng ngả. Chị biết, dù mọi người trong lớp cười, chẳng có ác ý gì nhưng vẫn làm cậu bạn kia ngại ngùng, xấu hổ lắm.

Biết tình hình sẽ không khá hơn với con mình nếu con cứ suốt ngày líu lo nói ngọng, chị lên kế hoạch tập cho con phát âm đúng đặc biệt là vài âm “nhạy cảm”. Vừa dạy con phát âm, chị vừa chỉ cho con cách điều khiển lưỡi thế nào, khuôn miệng ra sao… để bé phát âm cho chuẩn.

“Con đã biết đọc, biết viết thế nhưng tôi lo lắm, có gần 1 năm nữa là con vào lớp 1 rồi, thế mà ngọng thế này thì học hành ra làm sao?”, chị nói.

Con nói ngọng là một chủ đề rất nóng trên nhiều diễn đàn. Chị Khánh (Quận 3, TP HCM) cũng nằm trong hoàn cảnh này, bé Mun con chị với biệt danh “vua nói ngọng”.

“Con tớ bị ngọng kinh khủng, mất hết chữ cái đầu như ‘con gà’ thành ‘on à’, ‘mẹ thành ẹ’, ‘bố thành ố’… Nghe con nói ‘ở à án ắm, i ơi i, on ích ơi ơ’ mà vợ chồng tớ cười đau cả ruột rồi ngẩn ra phân tích xem ‘nó nói gì”.

Được một thời gian dài uốn nắn, bé Mun cũng có bước tiến rõ rệt, bé không “vứt” những âm tiết đầu tiên đi nữa mà giờ bé chỉ “ăn gian” vài từ: “siêu thị” thành “siêu ị”, “con chó” thành “con hó”.

Thêm vào đó, âm “r” bé tuyệt đối “bó tay”, “rổ rá” bé toàn nói là “gổ gá”, “con rùa” thành “con gùa”.

Chị Tuyết (Cầu Giấy, Hà Nội) có con bị ngọng nhưng ở mức độ nhẹ hơn, chữ ‘gh’ được bé đổi sạch sang ‘h’. Lúc thì: “Mẹ lấy cho con cái hế”, “Bố ơi, cuối tuần rồi, cả nhà đi hăm em bé đi”, “Eo ơi, đường hồ hề thế nhở”.

Chị chia sẻ: “Những khi nào nghe con nói ngọng, vợ chồng mình lại tảng lờ hoặc hỏi lại ‘sao hả con?’, thằng nhóc nói lái ngay sang ‘mẹ lấy cái ấy cho con’, nhìn mặt con ngộ lắm, con toàn tìm từ khác, để nói tránh cái từ mình không nói được thôi”.

Nhiều khi chị đã cố dạy con nói chuẩn, ép con bắt chước mình, nhìn khẩu hình lưỡi cong lên và bắt con phát âm “r” cho bằng được thế nhưng “Nhìn con cũng cong lưỡi, uốn môi các kiểu, nhưng khi phát thành tiếng cũng loách cha loách choách nghe buồn cười lắm”, chị nói.

Rèn cho con hết hẳn chứng nói ngọng

Rèn cho con hết tật nói ngọng là ước muốn của rất nhiều bậc phụ huynh tuy nhiên điều này không thực sự đơn giản.

Có nhiều nguyên nhân khiến bé nói ngọng: Do sự phát triển thể chất chưa toàn diện, bé nhút nhát, bắt chước người thân nói ngọng, bệnh lý (viêm họng, tắc mũi)…

Đứng trước tình huống này, nhiều bậc phụ huynh như chị Tuyết, chị Khánh và chị Thư đã áp dụng chiêu thức khuyến khích con nói nhiều và điều chỉnh cho con ngay lúc trẻ nói. Việc để con nói nhiều sẽ giúp bé tăng vốn từ vựng, hơn thế bố mẹ lại có điều kiện biết con thường sai ở từ nào và sửa kịp thời.

Việc tiếp theo mà các bố mẹ hay làm là giúp bé thoải mái, thả lòng người và thật bình tĩnh trước khi nói. Tránh trường hợp hỏi dồn khiến bé lúng túng, nói lắp, ngọng…

Như chị Thư và chị Khánh còn thường xuyên làm mẫu cho bé: Dạy bé đặt lưỡi thế nào, hơi bật ra làm sao. Nhìn người thân làm thì bé càng dễ dàng bắt chước học tập theo.

Hay nói chuyện, hát cho con nghe: Ngay từ bé, nếu bạn thực hiện điều này thật chuẩn, thường xuyên, bé sẽ có cả một quá trình để bắt chước theo những bài hát, câu chuyện mà bạn kể. Với những từ nào bé bị ngọng, bạn hát, kể đi kể lại phần đó để bé ghi nhớ và làm theo.

Cho bé tiếp xúc với môi trường rộng lớn bên ngoài hơn là co cụm bé trong không gian ở nhà. Việc tăng cường những hoạt động giao tiếp, nhất là ở chỗ đông người sẽ khiến bé nhanh nhẹn, mau miệng hơn.

Hạn chế để bé tiếp xúc với người hay bị nói ngọng.

Khi con ngọng, tuyệt đối không nhại lại, trêu con, điều này khiến bé sẽ không ý thức được việc phát âm chuẩn là việc nên làm.

Cuối cùng, nếu bạn biết nguyên nhân bé ngọng xuất phát từ yếu tố bệnh lý, bạn cần đưa con đi khám ngay. Cha mẹ nên kiên trì trong việc dạy bé nói, không nôn nóng.

Chị Ngọc (Bạch Mai, Hà Nội) chia sẻ với các mẹ về cách dạy con nói ngọng – theo chị nhờ cách này mà bé Na nhà chị tuyệt nhiên hết hẳn chứng nói ngọng.

Trước đây, Na cũng toàn nói mất chữ cái đầu: “Con tu hú” thành “on u ú”. Những lúc thế, chị bảo: “Na nói nhầm nhé, nghe mẹ nè”. Thế là từng cử động về môi, đặt lưỡi thế nào được bé răm rắp nghe theo. Chị cho bé nói rõ âm đầu trước rồi ghép âm chuẩn sau.

Những hôm “luyện thanh” cho con, cả nhà chị có lúc như cái chợ vỡ. Con thì: “On uồn ụ ồi”, mẹ lại bảo: “Nói thế thì không ngủ nghê gì cả nhé. Ngồi xuống đây, giữ lưỡi như mẹ, há to miệng ra, chúm cha chúm chím như thế thì hơi bật ra bằng cách nào”…

“Tuy mất thời gian, hơi mệt một chút nhưng con tiến triển rõ rệt”, chị tự hào kể.

chữa tật nói ngọng của trẻ 3

4 nguyên tắc chính trong việc chữa ngọng cho bé

Nói ngọng là tình trạng xảy ra ở một số trẻ, xuất phát từ nhiều nguyên nhân như cấu trúc hàm, răng, lưỡi… Đa phần, việc nói ngọng sẽ dần cải thiện theo thời gian, nhưng có những trường hợp trẻ sẽ ngọng đến lúc lớn lên. Ngay khi phát hiện trẻ nói ngọng, cha mẹ cần giúp trẻ chỉnh sửa ngay để tránh kéo dài.

Trong những trường hợp trẻ bị ngọng, cha mẹ phải thật kiên trì dạy con nói thật chậm, từng từ, từng câu và hỗ trợ con theo các bài tập cơ bản sau:

Tập chữa ngọng bằng hệ thống bài tập, dựa trên 4 nguyên tắc chính.

Thời gian của các bài tập phải ngắn: do sự tập trung vào bài tập của trẻ hạn chế. Nếu bài tập dài sẽ làm trẻ rất chóng mặt, do đó khả năng tập trung bằng tai, trẻ nghe âm thanh đúng của âm được luyện tập bị giảm sút. Do đó thời gian bài tập chỉ nên khoảng 2-3 phút. Tuy nhiên muốn tập tốt phải tập nhiều lần trong ngày (có thể từ 20 – 30 lần/ngày).

Giám sát bằng tai nghe: thường trẻ ngọng không có ý thức rằng mình đã phát âm sai, do đó cần phải luyện tập cho trẻ cách phân biệt thế nào là âm đúng.

Sử dụng các âm bổ trợ: thực tế là các mô hình phát âm sai thường cố định rất vững chắc và không thể phá vỡ bằng cách trình bày giản đơn cho trẻ cách thức cấu âm đúng. Vì thế khi tập phải cho trẻ phát âm những cấu âm mà trẻ đã biết là đúng và có vị trí cấu âm tương tự với âm luyện tập. Ví dụ khi tập sửa âm gió, ta sử dụng âm bổ trợ “t”, trong tập âm “r” sử dụng âm bổ trợ “đ”… Âm bổ trợ được chuyển dần từng bước sang âm luyện tập.

Dùng sức tác động tối thiểu gồm tiết kiệm cử động và sức trong khi cấu âm. Cần thiết lúc bắt đầu luyện tập một âm mới phải phát âm nhẹ, khẽ, không cần sức để cho âm đó không khác thường khi nói và được sát nhập nhanh chóng với các âm khác.

Giai đoạn đầu tập luyện, cha mẹ nên ngồi cùng các con khi giáo viên hướng dẫn mới có thể tập đúng cho trẻ khi ở nhà. Ngọng là một bệnh có thể chữa được vì thế nên phải phát hiện sớm để hướng dẫn trẻ khắc phục kịp thời, tránh những thiệt thòi cho con trước khi đến trường.

Trẻ bị hăm tã phải làm sao và cách giúp bé không bị hăm tã

Trẻ nhỏ, đặc biệt là sơ sinh, vào mùa nóng, mặc bỉm (tã lót) thường xuyên, ít được mẹ thay tã, rất dễ bị hăm tã do bé có làn da nhạy cảm. Vậy phải xử trí như thế nào khi bé bị hăm tã và có phương pháp nào giúp cho bé không bao giờ bị hăm tã hay không? Cùng tham vấn lời khuyên của bác sĩ chuyên khoa nhi nhé.

Hỏi: Bé nhà tôi hay bị hăm tã, vì thế tôi thường thoa kem Bepathen cho bé sau mỗi lần thay bỉm, tôi muốn hỏi dùng kem này thường xuyên có tốt cho bé không ? Nếu không thì để chống hăm tã tôi phải dùng loại kem nào cho bé ?

xử trí khi bé bị hăm tã 1

Trả lời của bác sĩ nhi khoa:

Hăm tã là một chứng bệnh ngoài da, tại khu vực da tiếp xúc với tã của trẻ và bạn nên nhớ rằng, cho dù bạn dùng ta giấy hay tã vải, chứng hăm tã vẫn có thể xảy ra với con bạn. Thông thường lớp da tại vùng tiếp xúc sẽ hơi đỏ, nặng hơn có thể nứt nẻ, đóng vẩy và có thể dẫn tới mưng mủ ở khu vực da bị hăm.

Có nhiều lý do gây ra chứng hăm tã, nhưng thông thường nhất là do nước tiểu của bé hoặc phần “lưu trú” lâu trong tã do các mẹ ít thay tã, để cho tã bẩn tiếp xúc với da quá lâu và từ các dấu hiệu hăm, tấy đỏ, nếu để nguyên không chữa trị, lớp da trở nên căng bóng và có thể sinh ra mụn mủ. Chứng hăm tã cũng có thể do tắm bé xong, mẹ lau không khô đã vội quấn tã ngay…

Trong những trường hợp như vậy, chứng hăm tã chỉ xuất hiện ở những ngấn da ở phía trên đùi. Nếu bạn đang dùng tã vải, có khả năng bé của bạn bị hăm do phản ứng với các hóa chất trong bột giặt đã sử dụng để giặt giũ, hoặc là thuốc tẩy vải.

Một điều khá may mắn là hăm tã ở trẻ tuy phổ biến nhưng lại rất dễ chữa trị và phòng ngừa. Như đã trình bày, các bà mẹ cần lưu ý các dấu hiệu ở trẻ và vấn đề tốt nhất trong phòng ngừa chính là vệ sinh cho bé thật sạch, thật đúng cách

Khi trẻ bị hăm tã, những dấu hiệu sau thường xuất hiện và có thể thấy bằng mắt thường, đó là: đỏ da ở vùng quấn tã; đỏ da ở xung quang bộ phận sinh dục, kèm theo mùi khai.

Vùng da đỏ có thể bắt đầu từ hậu môn của bé sau đó lan dần ra tới mông và đùi, da căng và có lốm đốm đỏ, ở giữa có mủ… một triệu chứng cũng dẫn đến hăm da ở trẻ đó là tiêu chảy cấp, bệnh thường xuất hiện vào ngày thứ 2 đến ngày thứ 5 sau khi bị tiêu chảy.

Quan sát da vùng quanh hậu môn có màu đỏ tươi, sau thành loét đỏ, chảy nước, chảy máu, diễn tiến có mủ. Trẻ bị hăm da thường đau lúc đi tiêu, quấy nhiều, thậm chí kém ăn, ít ngủ rất khó chăm sóc. Hăm da ở trẻ tiêu chảy có thể tồn tại mà người nhà không phát hiện được do vị trí quanh hậu môn ít được chú ý. Tình trạng ẩm ướt tại vùng hậu môn liên quan với số lần đi tiêu của bé trong ngày.

Chính vì vậy, những trẻ sơ sinh có làn da mỏng sẽ ít khả năng chống đỡ với chất gây viêm và sẽ dễ bị hăm da hơn trẻ lớn tháng. Ở những trẻ bú sữa bình, độ pH trong phân của trẻ cao hơn trẻ bú mẹ nên cũng dễ bị hăm da hơn.

Khi nào bạn cần đưa trẻ bị hăm tã đến gặp bác sĩ?

- Trẻ bị hăm tã kéo dài trên 5 ngày, bạn đã làm theo hướng dẫn trên nhưng trẻ không khỏi

- Trẻ bị sốt

- Trẻ bị nổi nhiều mụn mủ

- Vùng hăm tã da đỏ tấy, có khuynh hướng lan rộng

- Trẻ có tiêu chảy

Những điều các bậc cha mẹ không nên làm bị bé bị hăm tã

- Quên không thay tã trong nhiều giờ

- Quấn tã quá chặt

- Bôi phấn rôm (sẽ làm bít các lỗ chân lông, tăng thêm tình trạng hăm tã)

Sử dụng nhiều loại kem bôi mà không tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa Nhi (điều này sẽ làm tăng nguy cơ dị ứng).

xử trí khi bé bị hăm tã 2

Xử trí đúng cách khi trẻ bị hăm tã

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hăm tã nhưng phổ biến nhất là do nước tiểu của bé đọng lại quá lâu nếu mẹ ít thay tã. Hăm cũng có thể xảy ra do khi tắm xong, người bé còn ẩm mà mẹ đã vội quấn tã…

Một nguyên nhân hay gặp nữa là do lạm dụng phấn rôm. Nhiều mẹ rất thích thoa một lượt phấn rôm cho bé sau khi bé tắm xong. Cảm giác bé thơm tho, mát mẻ khiến mẹ lầm tưởng rằng phấn rôm có thể làm mát da mát thịt, chống rôm sẩy và chống hăm. Thực chất phấn rôm dễ làm bít tắc lỗ chân lông, gây khó khăn cho việc thoát ẩm của da và khiến hăm da xuất hiện.

Ngoài ra, hăm da ở bé còn do một số nguyên nhân khác như da bị kích ứng với chất liệu của tã lót, tã lót của bé không được sạch sẽ, quấn tã quá chặt, bé ăn thực phẩm mới, bị tiêu chảy kéo dài…

Nếu được phát hiện sớm và xử lý ngay thì vùng da hăm sẽ nhanh chóng lành lặn. Quan trọng nhất là chú trọng vệ sinh cho bé. Phải rửa vùng kín cho bé ngay sau khi bé đi vệ sinh xong bằng nước ấm, sạch, rồi thấm khô bằng khăn bông và thay tã mới. Khi rửa cần nhẹ nhàng, tránh để bé đau và xây xước da thêm. Dùng khăn ướt có thể làm khô da bé, bạn cần cẩn thận chọn loại không cồn và không mùi.

Không dùng chung kem chống hăm cho nhiều bé. Nếu ngón tay bạn đã chạm vào vùng da bé bị hăm thì bạn không dùng lại ngón tay đó để lấy kem trong hũ nữa mà dùng ngón tay khác để lấy thêm kem. Nếu có thể, bạn nên để da bé tiếp xúc với không khí trong khoảng thời gian ngắn sau khi thay bỉm. Việc này sẽ giúp bé cảm thấy dễ chịu, thoải mái hơn và các vết hăm cũng sẽ mau lành hơn.

Bên cạnh đó, mẹ cần rửa tay sạch sẽ trước khi tiếp xúc với da bé và nhớ kiểm tra thường xuyên để kịp thời phát hiện khi tã lót của bé ướt.

Thực phẩm ảnh hưởng tới việc bé hăm tã

Sẽ rất khó tin, nhưng thực phẩm hàng ngày cũng là nguyên nhân khiến trẻ bị hăm bởi làm thay đổi thành phần phân của bé. Đáng chú ý là những loại trái cây có tính axít cao như quả mâm xôi, quả việt quất, cam, cà chua… Khi bé có dấu hiệu bị hăm tã, các mẹ nên loại bỏ những thực phẩm này ra khỏi thực đơn hàng ngày để cải thiện tình hình.

Đối với các mẹ đang trong thời kỳ cho con bú, cần chú ý khẩu phần ăn của mình. Bởi ảnh hưởng đến việc tiết sữa, hoặc qua sữa sẽ làm phân của bé thay đổi, cũng là nguyên nhân gây hăm ở bé.
Bên cạnh những loại kem chống hăm trên thị trường, hiện nay có nhiều bài thuốc dân gian chống hăm cho bé rất hiệu quả, được các mẹ chia sẻ rộng rãi như: Dùng lá chè xanh hoặc nụ vối hoặc lá trầu không rửa sạch, cho vào nước đun lên. Lấy nước đó đổ vào chậu cho nguội bớt. Khi nước còn hơi âm ấm, dùng rửa vùng da hăm cho bé. Cách thứ 2 là lấy một nắm lá khế rửa sạch, vẩy khô, giã nát cùng chút muối, cho thêm nước sôi để nguội rồi chắt lấy nước chấm vào chỗ da bị hăm.

Chống hăm da cho bé không chỉ dừng lại ở khâu vệ sinh, dùng thuốc, mà còn tùy vào nguyên nhân, triệu chứng để đưa bé đến bệnh viện khám chữa.

6 điều nên tránh khi trị hăm tả cho bé

Phân nhão do thuốc kháng sinh, thay đổi trong chế độ ăn uống hoặc những kích thích do mọc răng cũng khiến hăm phát triển. Dưới đây là một số gợi ý giúp bạn giảm cho bé bị hăm:

Nên dùng tã giấy có khả năng hút tốt vì nó sẽ khiến da của bé khô lâu. Nên thay tã cho con thường xuyên ngay cả khi bạn nghĩ bé không bị ướt.

- Nên rửa sạch vùng quấn tã với nước sau khi thay tã. Không dùng khăn ướt có cồn để lau cho con

- Nếu bé hăm nặng, sau khi vệ sinh xong nên nhúng mông của bé vào chậu nước có pha baking soda (một bát nhỏ baking soda vào một chậu nước). Cách này giúp trung hòa axit trong phân và nước tiểu. Sau đó, lau khô bằng khăn mềm.

- Thỉnh thoảng, nên để mông, bẹn của bé được thoáng khí. Trong giấc ngủ ngắn của bé, nếu trời ấm, bạn có thể cởi bỉm cho con, gấp một chiếc tã vải lót trên tấm ni-lon rồi kê dưới mông của bé, tránh giường ướt do bé tè.

- Có thể thoa kem chống hăm chứa oxit kẽm sau mỗi lần thay tã.

- Nếu những nốt ban đỏ mọc dưới rốn của bé thì bạn nên gập cạp của bỉm ra bên ngoài để hạn chế phần cạp này cọ vào bụng của bé.

Bên cạnh hăm thông thường, có những loại hăm đặc biệt hơn, chẳng hạn:

- Hăm do dị ứng thực phẩm thường là một vòng màu đỏ quanh hậu môn. Đó có thể do bé dị ứng với nước cam hay cà chua. Trường hợp này, cần hạn chế thực phẩm trên và theo dõi.

- Ban men cần điều trị bằng kháng sinh, nổi lên từng vùng với màu đỏ hồng hoặc nổi da gà. Nên hỏi bác sĩ về kem bôi cho bé.

- Trường hợp hiếm, ban có thể do vi khuẩn, vùng ban có kích thước như đồng xu, đóng vỉ màu mật ong, nổi quanh mông. Trường hợp này cũng cần được bác sĩ kê thuốc bôi kháng sinh.

Bé hay giật mình, quấy khóc có phải do thiếu canxi và cách bổ sung canxi cho trẻ

Trẻ sơ sinh rất cần canxi cho sự phát triển của hệ xương và chiều cao. Nếu thiếu canxi, trẻ sơ sinh thiếu ngủ không ngon giấc, hay giật mình, quấy khóc… Vậy làm thế nào để bổ sung đủ canxi cho trẻ, giúp trẻ phát triển khỏe mạnh? Các mẹ hãy tham khảo lời khuyên của các bác sĩ nhi khoa và chuyên gia dinh dưỡng nhé.

Canxi có vai trò rất quan trong trong việc quyết định độ cứng cáp, phát triển chiều cao,… của trẻ nhưng nếu không nắm được những dấu hiệu và cách bổ sung canxi cho trẻ thì bé có thể bị thiếu canxi mà bạn không biết. Đặc biệt, trong giai đoạn dưới 1 tuổi nếu không cung cấp đủ lượng canxi kéo dài sẽ dẫn đến còi xương, chậm lớn và ảnh hưởng rất nhiều đến các giai đoạn phát triển về sau của trẻ.

Các chuyên gia Nhi khoa khuyến cáo rằng, đối với trẻ từ 0-6 tháng tuổi mỗi ngày cần bổ sung lượng canxi cần thiết là 300mg, từ 7-12 tháng tuổi là 400mg. Trẻ dưới 6 tháng tuổi có thể không cần bổ sung canxi bên ngoài nếu bú mẹ hoàn toàn bởi trong sữa có đủ lượng canxi cần thiết cho nhu cầu của trẻ.

Khi trẻ lớn hơn, nhu cầu canxi cao hơn nên có thể bổ sung bằng sữa giàu canxi, các chế phẩm từ sữa hoặc thực phẩm khác như đậu nành, hải sản.

Dấu hiệu nhận biết trẻ thiếu canxi

trẻ sơ sinh thiếu canxi 1

- Trẻ quấy khóc, ngủ không ngon giấc, khi ngủ hay giật mình. Mỗi lần như vậy, trẻ có những cơn khóc thét, co cứng toàn thân, đỏ và tím mặt, cơn khóc kéo dài và có thể nhiều giờ hoặc suốt đêm. Càng dỗ, càng ru, càng cho bú, trẻ càng khóc nhiều, có thể ngưng thở trong cơn khóc.

- Bé hay vặn mình, ọc sữa

- Ra nhiều mồ hôi, nhất là khi ngủ.

- Tóc rụng thành đường hình vành khăn sau gáy.

- Hay có những cơn co thắt thanh quản gây khó thở, nấc cụt, ọc sữa…

Những trường hợp nặng có thể ngưng thở và thở nhanh, có các cơn tăng nhịp tim và có thể gây suy tim. Trẻ bị còi xương nặng do thiếu canxi thì thóp chậm liền, đầu bẹt, lồng ngực dô, chân vòng kiềng hoặc chữ bát, chậm mọc răng, chậm phát triển kỹ năng vận động.

Trẻ lớn hơn thường có những biểu hiện mệt mỏi, biếng ăn, gầy yếu, chóng mặt, đổ nhiều mồ hôi, ngủ không ngon giấc…

Nguyên nhân khiến cho trẻ sơ sinh thiếu canxi

- Trẻ sơ sinh thiếu chế độ tắm nắng phù hợp nên phải đối mặt với chứng thiếu vitamin D và nguy cơ tụt canxi trong máu.

- Tình trạng thiếu canxi kéo dài có thể do bé thiểu năng tuyến giáp trạng.

- Do chế độ dinh dưỡng của bé chưa hợp lý.

- Do mẹ mắc chứng tiểu đường, nhiễm độc thai nghén…

- Do bé bị ngạt, bị thiếu oxy trong máu trong quá trình sinh.

Phòng và điều trị tình trạng trẻ thiếu canxi

- Nhiều trường hợp thiếu canxi nhẹ, bác sĩ có thể cho bé uống canxi, kết hợp với vitamin D hàng ngày cho đến khi nào lượng canxi trong cơ thể bé ở mức cân bằng.

- Để chủ động phòng ngừa bệnh còi xương và chứng hạ canxi máu do còi xương, các bà mẹ có con nhỏ cần bảo đảm nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ.

- Bạn cũng nên cho bé tắm nắng hàng ngày (trước 9h sáng) để bé tăng cường hấp thu canxi thông qua quá trình tổng hợp vitamin D. Nên bế con ra ngoài phòng, ngồi ở nơi không có gió lùa, để lộ tay, chân, lưng, ngực, bụng của trẻ ra ánh nắng mặt trời chừng 10 – 15 phút. Cho trẻ uống vitamin D mỗi ngày.

- Bữa ăn hàng ngày của mẹ cũng cần có thêm những thực phẩm giàu canxi như tôm, cua, cá, sữa, rau muống, rau ngót, rau dền, rau đay, rau mồng tơi, vừng, đậu tương… (chú ý xem xét nếu bé bị dị ứng).

- Khi trẻ bắt đầu ăn bổ sung, cần ưu tiên những thực phẩm giàu chất dinh dưỡng và canxi, nhớ cho trẻ ăn thêm dầu, mỡ, uống nước hoa quả tươi và ăn thêm quả chín. Phòng ở của trẻ cần thoáng, sạch sẽ, nhiều ánh sáng.

Những cách đưa canxi vào chế độ dinh dưỡng của trẻ

- Bữa sáng: Cho trẻ ăn loại ngũ cốc điểm tâm giòn luôn có sữa tươi kèm theo. Nếu trẻ không “chịu” món sữa này, có thể thay thế bằng bún riêu cua mềm dễ nuốt có tàu hũ hoặc bánh đúc đậu phụ chiên chấm tương vốn rất giàu canxi.

- Đăng ký cho con vào danh sách uống sữa ở trường lớp.

- Trời nóng, khuyến khích trẻ ăn kem hay uống loại đồ uống từ sữa ướp lạnh, có thêm cacao hay trái cây như dâu, cam mà trẻ thích hơn sữa đơn thuần rất nhiều.

- Trời mưa lạnh, cho trẻ uống sữa cacao nóng với vài chiếc bánh quy giòn lạt hay mặn có tăng cường canxi.

- Tận dụng máy xay sinh tố sáng chế ra những đồ uống hấp dẫn có sữa, kem (làm từ sữa) hay sữa chua đông thành kem với hương vị vani, chuối, dứa, sầu riêng, mãng cầu, ca cao…

- Cho trẻ ăn bánh có nhân trộn thêm sữa.

- Thêm sữa bột gầy vào xốt những món ăn mặn như ra-gu, ca-ri thịt, đậu, khoai…

- Cho trẻ ăn pho mai và sữa chua vào những bữa phụ.

- Giải khát: Cho uống nước cam, quýt.

- Cho trẻ ăn nhiều rau xanh như rau muống, bó xôi, bông cải xanh giàu canxi hoặc các rau khác.

Quan trọng hơn cả là giải thích cho con bạn hiểu rằng nếu muốn cao, khỏe, đẹp thì cần uống sữa mỗi ngày hoặc ăn sữa chua, pho mai, kem làm từ sữa.

Mỗi bữa ăn, thay vì uống nước, các cháu nên uống ¼ lít sữa (1 ly lớn), người lớn cũng uống 1 ly. Nếu sợ các bé béo vì sữa, có thể dùng sữa “gầy”; trẻ đang tuổi học sinh nên uống sữa có 2% chất béo, các bé lẫm chẫm biết đi thì uống sữa nguyên kem.

Các bà mẹ cần làm gì để bé đủ canxi?

Trong giai đoạn đầu đời, để tăng sức để kháng và tránh tình trạng thiếu canxi, trẻ phải được bú mẹ sớm, bú hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 4-6 tháng đầu và kéo dài đến 18-24 tháng.

Bên cạnh đó, chế độ dinh dưỡng cho bé cũng cực kỳ quan trọng. Bố mẹ nên sử dụng các thực phầm giàu can xi như sữa, các chế phẩm từ sữa (phô mai, sữa chua,..), sữa tươi, sữa nguyên kem. Ngoài ra , các loại rau lá có màu xanh sậm, hải sản, cá, đậu,… cũng là những nguồn cung cấp canxi tự nhiên tốt cho cơ thế.

Bên cạnh đó việc tập cho bé vận động ngoài ánh nắng, tắm nắng cũng góp phần bổ sung vitamin D và canxi.

Chỉ khi nào thực sự cần thiết, các bà mẹ mới nên cho con mình dùng thuốc bổ dung canxi nhưng phải theo sự hướng dẫn cụ thể và tư vấn của bác sĩ. Thời gian bổ sung canxi cũng rất quan trọng, bởi vào ban ngày nếu bổ sung canxi cho trẻ thì các chất axit folic và axit tannic có nhiều trong thức ăn dạng thực vật sẽ kết hợp với ion canxi hình thành muối canxi không thể hòa tan, bài tiết trực tiếp ra ngoài mà cơ thể không hấp thụ được. Còn trong thức ăn dạng động vật lại chứa nhiều chất béo, kết hợp với ion canxi cũng sẽ bị đào thải ra ngoài.

Đồng thời cũng không được bổ sung canxi lúc đói vì lúc đó đường miệng vẫn cần acid, dạ dày mới có thể phân giải thành các ion canxi để cơ thể hấp thụ, trong khi acid chỉ tiết khi thức ăn nhai trong khoang miệng. Vì vậy, việc bổ sung can vì vào thời điểm này là vô tác dụng.

Ngoài việc bổ sung canxi cho trẻ, các mẹ nhất là có trẻ trong giai đoạn dưới 1 tuổi cần ăn đầy đủ, đa dạng các laoij thức phẩm, ăn thêm bữa hoặc uống 200ml sữa trước khi ngủ.

Như vậy, không chỉ nắm được các dấu hiệu nhận biết tình trạng thiếu canxi ở trẻ mà các mẹ nên có những phương pháp đúng đắn để bổ sung canxi cho trẻ để tránh được tình trạng thiếu canxi có thể xảy ra với trẻ nhà mình.

Bổ sung canxi thế nào cho đúng?

Trẻ từ 1- 2 tuổi cần 500mg/ngày. Từ khoảng 4 – 8 tuổi cần 800mg/ngày và từ 9 tuổi trở lên cần 1.300mg/ngày. Các thực phẩm như sữa và những chế phẩm từ sữa (phô mai, sữa chua) chứa chất này dồi dào nhất. Sữa nguyên kem và sữa tươi có hàm lượng canxi như nhau. Ngoài ra, rau lá có màu xanh sậm, hải sản (tôm, cua, nghêu…), cá, đậu là những nguồn cung cấp canxi tự nhiên cho cơ thể.

trẻ sơ sinh thiếu canxi 2

Các mẹ vẫn có thể cho con uống chung canxi với các loại thuốc trị bệnh. Tuy nhiên canxi có thể tương tác với vài loại thuốc như: kháng sinh tetracyclin, thuốc trị bệnh tuyến giáp… Vì vậy, khi bổ sung canxi cần được sự tham vấn của bác sĩ. Bạn nên cho trẻ dùng viên bổ sung canxi carbonate sau khi ăn. Ngoài ra, vitamin D giúp cơ thể tăng cường hấp thụ canxi. Bạn nên cho trẻ tắm nắng, tham gia các hoạt động ngoài trời. Đây là nguồn cung cấp vitamin D tự nhiên cho cơ thể dồi dào nhất.

Khi mua các loại can xi dưới dạng thuốc, cần phải chọn các sản phẩm canxi dễ hấp thu, không gây kích ứng dạ dày, ít gây tác dụng phụ. Nên cho trẻ uống theo chỉ dẫn của bác sĩ, vì khi uống quá nhiều dẫn đến thừa canxi cũng không tốt có thể gây sỏi thận, tiết niệu, xương cốt hóa sớm làm trẻ bị lùn.

Chế độ ăn của người mẹ trong giai đoạn cho con bú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ. Vì vây, chế độ ăn của người mẹ cần tăng cường các chất giàu canxi như: cá, tôm, cua, thịt, trứng, sữa…đó cũng là cách cung cấp canxi dồi dào cho con bạn từ khi còn nhỏ.

Những món ăn bổ sung canxi cho bé:

Xương hầm trứng gà – đậu phụ

Trứng gà, đậu phụ không chỉ giàu chất canxi, mà còn rất thơm ngon, dễ ăn. Đặc biệt dùng cho trẻ em dưới 1 tháng tuổi chưa biết nhai là rất tốt.

Nguyên liệu:

- Trứng gà 1 quả

- Đậu phụ 1 miếng

- Xương sườn lợn 150g

- Mớ hành thái nhỏ.

Cách làm:

- Trứng gà đập vỡ, đánh đều.

- Đậu phụ bóp nát.

- Xương hầm lấy nước. Sau đó cho đậu phụ vào nấu chín, tiếp tục cho gia vị, trứng gà vào. Nêm thêm ít hành vào là được .

Bột gạo, cá

trẻ sơ sinh thiếu canxi 3

Trong cá chứa hàm lượng canxi rất cao, giúp chắc xương, phát triển não của trẻ. Cá cung cấp đầy đủ các loại dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Nên thường xuyên cho trẻ từ 4 tháng trở lên ăn món này.

Nguyên liệu:

- Bột gạo (hoặc bột dinh dưỡng) 100g

- Cá lọc lấy thịt 1 con

- Rau cải ngọt 15-20g

- Muối ăn 1 thìa cà phê.

Cách làm:

- Cho bột vào nước lã khuấy đều thành hồ.

- Sau đó cho vào nồi, đun sôi khoảng 8 phút thì cho rau cải và cá đã làm sạch vào.

- Nấu cho đến khi chín, nêm muối vừa ăn là được.

Xương hầm – Mì đũa

Nguyên liệu: Xương ống heo, hoặc xương bò 200g, mì đũa 5g, rau cải 50g, muối ăn một ít, dấm gạo 1 ít .

Cách làm: xương ống đập dập, cho vào nước lạnh hầm chín , sau khi nước sôi cho một ít dấm gạo vào tiếp tục hầm 30 phút cho mềm. Sau đó lọc lấy nước bỏ xương, tiếp tục cho mì đũa vào nồi nấu sôi . Cho sau đã rửa sạch thái mỏng vào nồi nước dùng nấu chín. Cuối cùng cho gia vị vào nếm vừa ăn là được .

Nước xương hầm chứa hàm lượng can xi rất cao , đồng thời cũng rất giàu Protein, chất béo, sắt, và các loại vitamin, bổ sung chất can xin và sắt, phòng bệnh loảng xương và thiếu máu rất tốt cho trẻ em từ 1 tuổi trở lên.

Bánh bột tôm khô rau cải

Nguyên liệu:

- Tôm khô 5g

- Rau cải trắng 50g

- Trứng gà 1 quả

- Bột mì

- Một ít gia vị.

Cách làm:

Nhân bánh: Ngâm tôm khô vào nước ấm rửa sạch, giã nhuyễn, cho vào với trứng gà rán chín đánh tơi; rau cải trắng rửa sạch nhúng vào nước sôi, sau đó cắt thành từng đoạn giã nhỏ, trộn đều với trứng gà làm thành nhân bánh ; Làm vỏ bánh xong, cho nhân vào làm thành bánh nhỏ, hấp chín là được.

Tôm khô rất giàu canxi, rau cải khi nấu chín sẽ loại bỏ đi một số axit oxalic, axit phutic, càng có lợi hơn đối với cnxin trong quá trình hấp thụ . Trứng gà có rất nhiều điểm tốt cũng không cần phải nói nhiều nữa, trẻ con 10 tháng trở lên nhất định rất thích loại bánh này .

Page 1 of 2812345...1020...Last »